Ứng dụng công nghệ thông tin vào sản xuất nông nghiệp đang là giải pháp mang lại niềm tin cho người tiêu dùng về chất lượng nông sản, nhưng không dễ thực hiện.

Sự phổ cập của công nghệ thông tin khiến mô hình canh tác nông nghiệp trở nên thông minh hơn. Những ứng dụng công nghệ tiên tiến đã làm thay đổi nhiều đến cách canh tác truyền thống; tối ưu hóa các yếu tố về giống, đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu, dinh dưỡng, thông tin thị trường… tạo ra các sản phẩm đồng đều về mặt chất lượng và từ đó tăng thu nhập cho người nông dân.

 Khi nông dân dùng công nghệ

Nhiều doanh nghiệp trong mảng kinh doanh nông nghiệp sạch luôn muốn đầu tư bài bản cho quy trình truy xuất nguồn gốc sản phẩm, từ đó giành được niềm tin của người tiêu dùng. Tuy nhiên, quy trình truy xuất nguồn gốc có quá nhiều quy định, gây khó cho nông dân và đơn vị sản xuất.

Theo bà Nguyễn Thị Hòa, Phó chủ nhiệm HTX Thỏ Việt, đơn vị chuyên sản xuất rau theo quy trình VietGAP, không một doanh nghiệp nào có đủ người để bám sát, hướng dẫn nông dân hàng ngày, hệ lụy là người trồng trọt không thực hiện đúng quy định kỹ thuật, làm sai lệch toàn bộ quá trình canh tác và kết quả là sản phẩm đưa ra thị trường khó có thể được công nhận là sạch.

Từ lý do đó, Thỏ Việt đã bắt tay hợp tác với một hãng phần mềm của Đức để xây dựng ứng dụng quản lý truy xuất nguồn gốc và được tích hợp vào chiếc điện thoại thông minh. Cách làm này giải phóng nông dân khỏi việc phải nhớ mọi thứ, ghi nhật ký từng công việc đã thực hiện… Giờ đây, với chiếc điện thoại thông minh cùng ra cánh đồng, người nông dân chỉ việc mở ứng dụng và thực hiện canh tác theo các chỉ dẫn đưa ra.

Ngược lại, toàn bộ dữ liệu được truyền thẳng vào máy chủ, nhờ đó bộ phận quản lý Thỏ Việt biết được nông dân đang làm gì, sự tăng trưởng của rau củ đến đâu theo thời gian thực. Do đó, Thỏ Việt an tâm kiểm soát được việc truy xuất nguồn gốc cho hàng trăm héc-ta rau của mình, bà Hòa cho biết.

nongnghiep1

Ở một quy mô lớn hơn và công nghệ cao cấp hơn, Khu nông nghiệp Công nghệ cao TP.HCM (AHTP), Công viên Phần mềm Quang Trung và Công ty Global CyberSoft đã hợp tác với nhau để xây dựng hệ thống phần mềm SmartAgri, ứng dụng quản lý sản xuất nông nghiệp công nghệ cao từ giai đoạn ươm mầm, xuống giống đến thu hoạch và bảo quản theo quy trình chuẩn.

Theo ông Từ Minh Thiện, Phó ban quản lý AHTP, trên nền tảng công nghệ này, nông dân dễ dàng theo dõi mùa vụ ở bất kỳ nơi đâu và canh tác thuận lợi chỉ cần thông qua các nút bấm. SmartAgri cũng tự động ghi lại mọi dữ liệu lịch sử canh tác đến khi thu hoạch, tạo ra mã QR giúp người tiêu dùng hoàn toàn có thể truy xuất ngược thông tin về sản phẩm từ quy trình trồng cho đến ngày cuối, ngày hết hạn, địa điểm gieo trồng. Hệ thống SmartAgri đã chạy thực nghiệm trong 2 vụ dưa lưới tại AHTP và cho kết quả tốt: năng suất cây trồng cao, chất lượng trái đồng đều.

Chi phí vẫn ngoài tầm tay

Hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình đầu tư nông nghiệp còn có thể thấy rõ trong việc nuôi bò sữa tại Vinamilk. Ông Trịnh Quốc Dũng, Giám đốc điều hành Phát triển vùng nguyên liệu Vinamilk cho biết, các con bò sữa nuôi tại trang trại đều được đeo chip điện tử để theo dõi chặt các thông số sinh học. Bất kỳ thay đổi về trạng thái của bò từ năng suất sữa, sức khỏe… đều được thu thập và có ngay phương án hỗ trợ, như thay đổi lượng thức ăn hoặc tách đàn chữa bệnh. “Nhưng để có thể làm được điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải có nguồn tài chính dồi dào”, ông Dũng cho biết.

Còn trong canh tác nông nghiệp, phần mềm SmartAgri chỉ mới được thực nghiệm trong hệ thống nhà màng. Nghĩa là các yếu tố về nhiệt độ, độ ẩm, lượng nước, sâu bệnh, đất đai, thời tiết… được kiểm soát một cách tối ưu, giúp phần mềm tính toán các thông số, xử lý canh tác dễ dàng hơn so với môi trường tự nhiên. Tuy nhiên, từ vài năm trở lại đây, việc trồng rau quả trong nhà màng vẫn tự chứng minh được về hiệu quả thực tế với khả năng kiểm soát các tác nhân khách quan và tạo ra năng suất cao cho cây trồng. “Sau khi đưa phần mềm SmartAgri tích hợp trong quá trình sản xuất tại nhà màng thì thấy có hiệu quả hơn về việc sử dụng nhân công, nhưng năng suất thành phẩm chưa thấy những cải thiện rõ rệt so với lúc chưa sử dụng phần mềm này”, ông Thiện cho biết.

Mặt khác, nếu chuyển giao công nghệ này cho nông dân, như kỳ vọng của các nhà sản xuất, sẽ vượt quá khả năng tài chính của người nông dân. Bởi một nhà màng với diện tích 1.000 m2 có chi phí từ 400 – 600 triệu đồng, chưa tính tiền thuê đất. Trong khi đó, những người tham gia làm nông nghiệp ở Việt Nam vẫn chủ yếu là các hộ nông dân có mức thu nhập không cao.

Vài lợi ích của làm nông nghiệp thông minh
– Năng suất cao hơn.

– Chất lượng sản phẩm cao hơn.

– Kiểm soát được qui trình sản xuất.

– Truy xuất được nguồn gốc sản phẩm.

TS Nguyễn Đăng Nghĩa, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn nông nghiệp nhiệt đới TP.HCM cho biết, ứng dụng công nghệ thông tin cho nông nghiệp đang là xu hướng chung của thế giới và đem lại một chuỗi liên kết giá trị từ quản lý sản xuất, thu hoạch đến tiêu thụ, phân phối. Toàn bộ yếu tố đầu vào được kiểm soát chặt chẽ tạo ra thành phẩm đúng chuẩn theo nhu cầu người tiêu dùng. Với chất lượng hàng hóa tốt và thông tin sản phẩm minh bạch với khả năng truy xuất nguồn gốc sẽ hỗ trợ cho việc xuất khẩu các mặt hàng nông sản của Việt Nam tại các thị trường lớn, khó tính như: Mỹ, Nhật, châu Âu. Tuy nhiên, để nông nghiệp thông minh đi vào triển khai thực tế ở diện rộng thì chi phí đầu tư phải hợp lý, phù hợp với khả năng tài chính của người nông dân Việt Nam.

Đăng Lãm