..." /> Con dê và gia đình tôi - Tạp chí Doanh nhân Online

Con dê và gia đình tôi

Con dê và gia đình tôi

Tôi tuổi Nhâm Ngọ, nhưng sinh vào đầu năm sau, sát với Quý Mùi, có lẽ vì thế tôi may mắn tiếp xúc nhiều với loài dê và có nhiều kỷ niệm thú vị. “Mua vui cũng được một vài...

Giải trí Tác giả

Tôi tuổi Nhâm Ngọ, nhưng sinh vào đầu năm sau, sát với Quý Mùi, có lẽ vì thế tôi may mắn tiếp xúc nhiều với loài dê và có nhiều kỷ niệm thú vị. “Mua vui cũng được một vài trống canh”, xin kể hầu các bạn đôi câu chuyện.

Ngày mẹ mới sinh tôi, cha tôi là Giám đốc Đài Thiên văn Khí tượng Phủ Liễn, Kiến An (Hải Phòng). Khi sinh ra tôi, bà bị ốm nên “cậu út” của gia đình lúc ấy được uống sữa dê hàng ngày.

Nhà có… nghề nuôi dê!

Đài Thiên văn Khí tượng Phù Liễn, Kiến An tọa lạc trên một khu đồi thật đẹp, bao quanh đó là những rừng thông xanh mướt, những vạt đồi sim, dương xỉ. Dưới chân đồi là thị xã Kiến An, nhấp nhô những căn nhà xinh xắn. Phóng tầm mắt ra xa, phía sau những cánh đồng xanh là thành phố Hải Phòng. Tôi được nghe kể rằng xung quanh khu đồi thông này, một số gia đình có nuôi dê và nghề nuôi dê tỏ ra đắc địa. Lúc ấy, việc dùng sữa dê chưa phổ biến, nhưng cha tôi là nhà khoa học, đã ở nước ngoài nhiều năm nên hiểu rõ công dụng của sữa dê, ông đã động viên vợ dùng sữa dê cho con cái. Mẹ tôi, vốn là người rất năng động, bèn nuôi một vài chú dê để lấy sữa.

Đàn dê nhà tôi được chăn dắt khá đơn giản: sáng thả ra khu đồi ven con đường lên Đài Khí tượng mà người dân ở đây gọi thân mật là “đồi ông Xiển”, lũ dê cứ thế thơ thẩn tìm ăn, chiều chiều chúng tự động kéo nhau về chui vào chuồng.

Có thể nói, việc nuôi dê lấy sữa của một nhóm gia đình ở đây đã có ảnh hưởng tích cực tới bà con xung quanh. Trong lần đón đoàn đại biểu Hội Truyền bá Quốc ngữ Hải Phòng tới thăm Đài Thiên văn Phù Liễn, các đại biểu đã tranh thủ thăm hỏi về… nghề nuôi dê của gia đình chúng tôi.

Sau ngày Bác Hồ đọc lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, cha tôi là Chủ tịch Ủy ban Hành chính Bắc Bộ đã cùng cơ quan sơ tán lên vùng An toàn khu (ATK). Gia đình tôi cũng tản cư gần cơ quan của cha. Cơ quan “đóng” ở nhiều nơi nên gia đình tôi cũng nhiều lần phải thay đổi chỗ ở, từ Vân Đình, Hà Đông (Hà Tây cũ) cho tới Vĩnh Yên, Bắc Kạn, Vĩnh Phúc, nhưng lâu nhất là ở huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Chính ở đây, con dê lại trở thành người bạn của gia đình. Gia đình tôi ngày mới tản cư chỉ có 7 anh chị em, nhưng sau năm 1949 đã có đủ 9 anh chị em, đều do mẹ tôi chăm lo. Lấy bí danh là “Bà giáo Mạc”, với ít nhiều kinh nghiệm do người anh trai là bác sỹ truyền cho, bà đã tham gia chữa những bệnh đơn giản như đau mắt, đau bụng… cho đàn bà, trẻ con đồng bào Tày, đồng bào H’Mông. Trong kháng chiến, anh chị em chúng tôi xem như “thất học”, chỉ tự bảo ban nhau, thi thoảng cha từ cơ quan về qua nhà lại chỉ bảo ít nhiều. Mẹ tôi đã tổ chức cho con cháu (gần một tiểu đội!), hàng ngày nuôi gà, nuôi vịt, kiếm măng và đào củ để trao đổi với đồng bào, trong đó chú trọng việc nuôi dê. Nhà chúng tôi đã trở thành nơi nghỉ chân của các ông bạn của cha tôi trên đường công tác, họ gọi đùa nơi đây là “ốc đảo Hà Nội” ở chiến khu. Bằng cách nhân bản đơn giản, đàn dê nhà tôi cứ tăng dần, lúc nhiều nhất có 15 con, do một dê đực mạnh mẽ dẫn đầu.

Nuôi dê thật đơn giản khi quanh ta là rừng và đồi. Chuồng dê bằng tre, nứa và cỏ gianh che gió rét. Hai anh em chúng tôi, anh lên 9, em mới 7 tuổi có nhiệm vụ chăn dê: sáng sớm mở cửa cho dê ra khu đồi và rừng thưa gần đó, rồi trong lúc dê ta tha thẩn tìm lá ăn, chúng tôi cũng chơi ở đâu đó, chiều về lùa dê vào chuồng. Việc vắt sữa dê là của mấy bà chị. Cái món sữa dê lúc đầu thấy hơi hoi, song uống dần đâm quen, nhất là khi hâm nóng và cho thêm chút đường thì có thể… “gây nghiện”! Sữa dê nhiều, gia đình tôi đem đổi cho một số bà con quanh đó lấy thực phẩm hay rau quả. Thú nhất là thỉnh thoảng lại được ăn thịt dê, nhất là khi cha về hay có các ông bạn của gia đình tới chơi.

Bí quyết thịt dê

Với lũ nhóc như tôi, thú vị nhất là khi trong đàn có 2 dê đực tranh nhau làm chỉ huy và gây mầm mống tách đàn. Khi ấy có lý do để “xử lý” một anh và nếu đúng dịp nhà có khách thì thể nào cũng có tiệc! Mẹ tôi bảo chúng tôi làm gì đó để hai dê đực chọi nhau. Tụi tôi khoái chí ngồi quanh xem hai chú dê tranh tài, chúng lùi xa lấy đà rồi lao vào nhau y như cái lối chiến đấu của Risa Sư tử tâm và các hiệp sĩ khi xưa. Khi sáp lại gần, chúng dướn cao, đoạn bổ đôi sừng xuống đối phương.

Cũng có lần mẹ tôi cho ai đó dắt dê chạy vòng vèo, một người khác cầm cành cây quất lia lịa cho dê toát hết mồ hôi y như lúc đánh nhau. Sau đó, mới thịt. Con thịt được nhét đầy lá ổi và vài loại lá thơm khác, sau đó khâu lại rồi đem thui theo nguyên tắc lửa luôn được tạt vào từ bốn phía, đến khi lớp da bên ngoài có ánh vàng nhạt mới thôi. Trong khi đó, loại thính thơm đặc biệt được rang kỹ bằng gạo nếp trộn lẫn đậu xanh và tương gừng đã sẵn sàng. Món tái dê mẹ tôi làm đã được nhiều ông bạn của cha như các GS Lê Văn Thiêm, Lê Khả Kế, nhà thơ Cù Huy Cận hay kỹ sư Lê Dung thưởng thức và khen ngợi.

Bi kịch của chú dê đỏ

Tháng 4 năm 1951, ngay sau khi anh trai kế tôi được vào Thiếu sinh quân và gia đình chỉ còn 7 anh em vì anh cả cũng đã vào bộ đội từ năm trước, anh hai lại đi dân công tải đạn, gia đình tôi nhận thêm một nhân vật mới, đó là chú dê không có sừng, màu đỏ như mận chín, loại dê Ấn Độ được cơ quan cấp cho gia đình để thay cho nguồn gạo tiếp tế không còn đều đặn như trước. Thế là đàn dê của chúng tôi thêm bạn mới. Mãi sau này tôi mới biết chú dê này là loại dê Beetal của Ấn Độ; không có màu lông đen tuyền hoặc màu lang trắng như thường thấy mà lại có đôi tai khá to và dài cụp xuống tận cổ. Con dê đỏ này tỏ ra nhanh hòa hợp lắm, nó lập tức ưa xơi nhất thứ lá màu xanh nhạt, hơi dài mà chúng tôi đã gọi tên là “lá thích ăn”, lại ưa đùa vui với mấy “ma cũ” và đặc biệt là cho nhiều sữa hơn hẳn dê nhà. Khi ấy, tôi là “con trai lớn” nên nhận trách nhiệm là người chăn dê chính thay anh, chú dê đỏ đã trở nên nổi tiếng khắp vùng.

Thế rồi có một sự cố, thật ấn tượng và thật khó giải thích. Vẫn biết theo thứ tự thì năm Mùi ứng với con Dê, thuộc Âm và đứng thứ 8 trong 12 Địa Chi. Hơn nữa, tháng Mùi là tháng 6 còn giờ Mùi là từ 1 đến 3 giờ trưa.

Khoảng 2 giờ chiều hôm ấy, tháng 6 năm 1951, đúng 2 tháng trước khi gia đình tôi qua Nam Ninh, Trung Quốc, bỗng có tiếng người vừa kêu vừa thở gấp từ phía ngoài:

– Bà giáo ơi, có con rắn gì to lắm nó ăn mất con dê đỏ nhà bà rồi!

May thay hôm ấy anh trai thứ hai vừa hết đợt dân công hỏa tuyến trở về, nghe vậy liền vác gậy cùng hai em chạy về hướng đang có nhiều tiếng người, tôi và thằng bạn tức tốc chạy theo. Ngót một Hoa giáp, song tôi còn nhớ như in cảnh tượng khi mấy anh em chạy tới hiện trường: từ sườn đồi bên này, nhìn qua sườn kia, được ngăn cắt bởi một ruộng nước, chúng tôi thấy một con trăn gấm cực to đang há miệng nuốt chửng con dê đỏ tội nghiệp. Anh Điểu, người cần vụ khỏe mạnh của cha tôi liền chạy đi và ít phút sau trở về cùng một anh du kích, có đem theo khẩu súng trường. Anh du kích nhắm kỹ và nổ phát súng trúng miệng con trăn gấm. Nó quẫy nhẹ, chiếc xương vuông theo quán tính đẩy con mồi ra khỏi miệng và cả hai con trôi tuột xuống chân đồi. Con dê nhẹ hơn nên mắc vào một bụi sim, còn gã trăn gấm to nặng nên tuột hẳn xuống ruộng nước.

Lập tức anh Điểu vung gậy và chúng tôi đếm đúng 14 lần, sau đó gã trăn mới chịu thua cuộc. Cuộc chiến thu hút nhiều bà con quanh vùng, thế rồi một người vác chú dê tội nghiệp về nhà, đám còn lại xúm nhau kéo con trăn mãi không nhúc nhích. Thì ra nó chưa chết hẳn, sau có người H’mông mách nước, lấy một ít sợi dây sắn dây buộc vào sợi thừng mới kéo về được.

Con trăn gấm dài hơn 4m được lột da khi treo trên cành bưởi ngay bên trái nhà tôi. Người du kích được chia tấm da trăn và sau khi thuộc xong, anh đã có cái chăn gấm độc đáo. Những viên mỡ trăn, tròn như trứng chim cút được rán lấy mỡ chống bỏng. Thịt trăn và cả thịt chú dê tội nghiệp cũng được chia đều, riêng cái mật trăn đã được mẹ tôi treo lên gác bếp, bà con nói nó có công dụng y như mật gấu vậy.

Vậy là 65 năm đã trôi qua, hình ảnh chú dê đỏ tội nghiệp và những kỷ niệm vui về bầy dê của những năm tháng đã xa xôi ấy cứ còn khiến tôi bâng khuâng mãi.

Ama Lâm (*)

(*) Tác giả bài viết này – nhà báo, nhạc sĩ, nhà bình luận thể thao Nguyễn Lưu – là con trai của Giáo sư Nguyễn Xiển (1907 – 1997) – một nhà khoa học, đồng thời là một chính khách; từng giữ chức Giám đốc Nha Khí tượng Việt Nam, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học kỹ thuật Nhà nước. Ông cũng từng giữ chức vụ Tổng Thư ký Đảng Xã hội Việt Nam và Phó Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Phu nhân của GS Nguyễn Xiển, cụ bà Nguyễn Thúy An, người Hà Nội gốc, nổi tiếng giỏi nữ công gia chánh. Theo gợi ý của Bác Hồ, bà đã viết sách dạy nấu ăn.

Bài viết liên quan

Kỹ năng quản lý thời gian cho các bạn trẻ

Nhiều người chỉ chăm chăm học cách quản lý tiền bạc mà chưa bao giờ học cách quản lý một nguồn tài sản khác hữu hạn và vô cùng quan trọng: thời gian. Trong bài viết này, Huyền Chip chia sẻ một số kỹ năng quản lý thời gian học được ở Mỹ.

Tin Nổi BậtNgười đăng Doanh nhan