..." /> Con đường chông gai của thủy sản Việt - Tạp chí Doanh nhân Online

Con đường chông gai của thủy sản Việt

Con đường chông gai của thủy sản Việt

Sau năm 2015 đầy khó khăn, dự báo năm 2016, tình hình kinh doanh của ngành thủy sản Việt Nam cũng sẽ không mấy sáng sủa. Ông Trương Đình Hòe, Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu...

Đối thoại Tác giả

Sau năm 2015 đầy khó khăn, dự báo năm 2016, tình hình kinh doanh của ngành thủy sản Việt Nam cũng sẽ không mấy sáng sủa.

Ông Trương Đình Hòe, Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) đã có cuộc trao đổi với DOANH NHÂN về vấn đề này.

Ông Trương Đình Hòe - Tổng thư ký Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP)

Ông Trương Đình Hòe – Tổng thư ký Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP)

Xin ông có thể chia sẻ tổng quát về tình hình xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong năm 2015?

Năm 2015 có thể được xem là năm buồn với ngành thủy sản, theo đó kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước chỉ đạt 6,7 tỷ USD, giảm 14,5% so với năm 2014. Thủy sản Việt Nam hiện đang xuất khẩu sang 164 thị trường trên thế giới. Tuy nhiên, trong năm 2015, tất cả thị trường này đều có kim ngạch xuất khẩu giảm, từ 3 đến 27% so với cùng kỳ năm ngoái, ngoại trừ ASEAN tăng 8%. Chưa bao giờ cả ba mặt hàng xuất khẩu thủy sản chính là tôm, cá tra và cá ngừ đều đồng loạt giảm như năm 2015.

Nếu trong năm 2014, xuất khẩu tôm là điểm sáng duy nhất đem lại kết quả kỷ lục 4 tỷ USD thì năm 2015 con số này chỉ đạt con số 3 tỷ USD, giảm 25% so với năm ngoái. Cá tra cũng ước giảm 10% so với cùng kỳ. Không chỉ suy giảm về giá trị, một số thị trường xuất khẩu chính của thủy sản Việt Nam như Mỹ, châu Âu (EU) đã bị mất 1-2% thị phần so với năm trước đó.

Nhiều chuyên gia cho rằng, xuất khẩu thủy sản 2016 sẽ tiếp tục gặp nhiều khó khăn. Thế nhưng VASEP lại dự báo, trong năm 2016, tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sẽ đạt khoảng 7,12 tỷ USD, tăng 6,3% so với năm 2015. Mục tiêu này liệu có khả thi?

Quả thực con số hơn 7 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu thủy sản trong năm 2016 là có thể đạt được, nhưng sẽ không dễ dàng nếu ngành thủy sản trong nước không tập trung nâng cao năng lực cạnh tranh. Kết quả xuất khẩu sụt giảm của năm 2015 là hệ lụy tất yếu của một quá trình tăng trưởng không chắc chắn, không bền vững mà từ lâu đã được phân tích, nhưng vẫn chưa có giải pháp khắc phục hiệu quả. Trong đó có vấn đề dư lượng kháng sinh, hóa chất trong nuôi trồng và chế biến chưa được kiểm soát chặt chẽ.

Vậy biện pháp khắc phục là gì, thưa ông?

Chỉ trong 9 tháng đầu năm 2015, số lô hàng thủy sản bị trả về đã gần bằng năm 2014, chủ yếu do nhiễm kháng sinh, vi chất, cùng với các loại tạp chất khác. Tại thị trường Mỹ, số lô hàng cá, tôm bị trả về với cùng lý do vi phạm chỉ tiêu kháng sinh tăng gấp 6 lần so với cả năm 2014. Úc, EU, Hàn Quốc đều đưa ra cảnh báo sẽ dùng biện pháp mạnh hơn như kiểm tra tất cả các sản phẩm hoặc ngừng nhập khẩu thủy sản Việt Nam nếu tỷ lệ vi phạm dư lượng kháng sinh vẫn gia tăng.

Thực tế các quy định đã được ban hành cụ thể, nhưng phương pháp thực hiện lấy mẫu, khâu kiểm tra, giám sát chưa đúng và chưa thực sự sát sao. Cần phải quản lý chặt chẽ chuỗi sản xuất từ khâu nguyên liệu đến sản xuất và tiêu thụ.

Để làm được điều này, cần sự chung tay của rất nhiều bên, trong đó vai trò chính yếu là các cơ quan Nhà nước cần đưa ra những quy định, biện pháp kiểm soát đầy đủ hơn, chặt chẽ hơn để giảm bớt rủi ro cho người nuôi. Vấn đề là phải bảo vệ người nông dân chứ không phải chỉ đi bắt khi họ làm sai. Về phía các doanh nghiệp cần phải tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát chặt chẽ hơn. Phương pháp kiểm tra, lấy mẫu phải được chuẩn hóa và có tính đại diện cao.

Nhiều hiệp định thương mại tự do, trong đó có TPP đã được ký kết, sân chơi chung AEC cũng đã mở ra. Ông nghĩ như thế nào về cơ hội cũng như thách thức cho thủy sản Việt Nam?

Tôi nghĩ cái được lớn nhất mà TPP mang lại đối với xuất khẩu thủy sản trong nước không phải là giảm thuế, là có được nhiều khách hàng hơn hay tăng sản lượng xuất khẩu mà vị thế của thương mại Việt Nam trong cộng đồng đó được thừa nhận thế nào. TPP sẽ tạo ra một sân chơi bình đẳng mà Việt Nam là một người chơi được đối xử công bằng. Chúng ta cũng có thể tận dụng sân chơi đó như một điều kiện để có thể đàm phán với các khách hàng khác hoặc những vấn đề thị trường khác, có thể sử dụng những kinh nghiệm, kết quả trong đàm phán với các thị trường trong khối TPP để tác động lên các thị trường khác.

Trong sân chơi này, Việt Nam cũng cần điều chỉnh mình để đạt được những nét tương đồng với các bạn hàng quốc tế, để xây dựng hệ thống quản lý chất lượng tốt hơn. Trong vấn đề bảo hộ bằng việc dựng lên các hàng rào kỹ thuật, nếu bạn hàng đặt ra yêu cầu cao quá và không hợp lý, mình hoàn toàn có thể đấu tranh trên cơ sở phân tích khoa học để nhận được sự đồng thuận. Đồng thời, mình cần phải nâng tầm của mình lên để đủ vị thế để nói chuyện với họ.

thusan2

Được biết, từ tháng 9/2017, thủy sản Việt Nam muốn vào Mỹ bắt buộc phải theo quy chuẩn của Cục Thanh tra và An toàn thực phẩm Mỹ (FSIS), thuộc Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), thay vì quy chuẩn của Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) như lâu nay. Các quy định của FSIS là hết sức nghiêm ngặt và dường như thủy sản Việt Nam sẽ khó lòng bước qua “khung cửa hẹp” này. Biện pháp ứng phó của các doanh nghiệp Việt Nam ra sao, thưa ông?

Từ tháng 3 năm nay đến tháng 9/2017 là khoảng thời gian 18 tháng cho giai đoạn chuyển tiếp sau khi Đạo luật Nông trại Mỹ có hiệu lực. Khi đó, thay vì kiểm tra 1% sản phẩm, FSIS yêu cầu rà soát 100% sản phẩm nhập khẩu. FSIS quy định nghiêm ngặt việc kiểm soát theo từng công đoạn (từ con giống, thức ăn, dư lượng kháng sinh, chất tồn dư thuốc thú y, vận chuyển, nhà máy…). Những yêu cầu này đều làm tăng chi phí đầu vào trong quá trình nuôi. FSIS còn quy định thủy sản ngoại muốn vào Mỹ phải đạt kỹ thuật nuôi tương đương như ở Mỹ. Nghĩa là muốn tiếp tục xuất khẩu, phía Việt Nam phải đăng ký danh sách và chứng minh cho thấy mình đạt chuẩn theo yêu cầu của FSIS.

Tuy nhiên, từ trước đến nay, các tiêu chuẩn FSIS đưa ra chỉ là đối với việc nhập khẩu thịt, thịt lợn và thịt gia cầm cũng như trứng vào Mỹ. Đây là lần đầu tiên họ xem xét các quy định này cho việc nhập khẩu thủy sản, cụ thể là cá da trơn. Vì thế, để đi đến thỏa thuận chung, hai bên cần làm việc với nhau để đạt được tiếng nói chung. Phía Mỹ có FSIS, phía Việt Nam có NAFIQAD, hai bên sẽ cần phải làm việc thường xuyên, trao đổi rất nhiều để thuyết phục lẫn nhau đi tới được sự thỏa thuận.

Tuần trước, một đoàn của Việt Nam đã qua làm việc với FSIS. Trong tuần này FSIS sẽ cử một phái đoàn sang Việt Nam làm việc để trao đổi về các vấn đề kỹ thuật cũng như hỗ trợ tư vấn về mặt kỹ thuật. Điểm khác biệt của chương trình thanh tra cá da trơn là không chỉ hệ thống nhà máy chế biến mà là toàn bộ chuỗi sản xuất, từ khâu nuôi, vận chuyển, giết mổ, chế biến nguyên liệu, xuất khẩu, thậm chí đến nhà nhập khẩu cũng phải được kiểm soát. Nói một cách tóm tắt, đây là sự tương đồng về cả hệ thống chuỗi sản xuất. Vì vậy, trong 18 tháng tới, không chỉ doanh nghiệp mà tất cả các bên cần phải nỗ lực để đạt được sự tương đồng với phía nhập khẩu.

Xin cảm ơn ông!

Lê Dung

Bài viết liên quan

Khi CEO viết sách về nghề

Rời ghế CEO của Tập đoàn Thiên Long để đảm nhiệm vị trí Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc VAL Making - một công ty khởi nghiệp, sứ mệnh của ông Nghĩa giờ đây hoàn toàn khác. 

Đối thoạiNgười đăng Doanh nhan