Giải hạn cho cà phê Tây Nguyên

Giải hạn cho cà phê Tây Nguyên

Tình trạng hạn hán kéo dài vài tháng qua tại các tỉnh Tây Nguyên gây ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là ngành cà phê vốn có tập quán canh tác dựa vào...

Thị trường Tác giả

Tình trạng hạn hán kéo dài vài tháng qua tại các tỉnh Tây Nguyên gây ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là ngành cà phê vốn có tập quán canh tác dựa vào nguồn nước. Cơn khô hạn ấy đã được giải nhiệt phần nào nhờ Dự án nghiên cứu về tưới nước tiết kiệm do các tổ chức và công ty quốc tế phối hợp hỗ trợ các nông hộ cà phê. 

Ánh nắng Mặt trời gay gắt đầu tháng 4 như muốn thiêu đốt hàng chục nghìn héc ta cà phê của các hộ nông dân Tây Nguyên. Mặt đất nứt toác, cây cối xám xịt vì thiếu nước, trên con đường đất đỏ dẫn vào trang trại cà phê của một nông hộ ở Cư M’gar, Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk những hố đất sâu hoắm được đào sâu hàng chục mét để tìm nước trong vô vọng. Nhưng cuộc sống vẫn phải tiếp tục!

Cây cà phê oằn mình trong cơn hạn

Đến cuối tháng 3, đất trời Tây Nguyên vẫn không có một hạt mưa, sông hồ cạn kiệt, cây trồng và vật nuôi oằn mình trong tiết trời nóng như rang. Theo ước tính của các cơ quan chức năng, diện tích cây trồng chính bị hạn hán, thiếu nước trên toàn bộ Tây Nguyên lên tới 167.000 ha, trong đó diện tích lúa là 14.600ha và diện tích cà phê là 152.760 ha. Tác động của biến đổi khí hậu ảnh hưởng ngày càng trầm trọng đến sản xuất nông nghiệp, nhiệt độ có xu hướng tăng, nguy cơ thiếu hụt nguồn nước tưới cho một số loại cây trồng chủ lực của Tây Nguyên, đặc biệt trong bối cảnh hiện tượng El Nino được dự báo sẽ kéo dài trong năm 2016. Mực nước trên các sông suối ở khu vực này đã tụt xuống rất thấp, các hồ chứa thủy lợi có dung tích trữ chỉ còn 30-40% dung tích thiết kế, nhiều hồ thấp hơn cùng kỳ năm 2015. Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Đăk Lăk, hiện nay Tây Nguyên đã có 7.108 ha lúa phải dừng sản xuất hoặc chuyển đổi, 8.403ha lúa bị thiếu nước và 40.137ha cà phê bị ảnh hưởng nghiêm trọng (3.000 ha cà phê mất trắng và thiệt hại trên 70%, 4.038 ha thiệt hại từ 30-70%) và 2.290 ha hồ tiêu bị ảnh hưởng do tình trạng khô hạn kéo dài.

Sự suy giảm mực nước ngầm do hoạt động tưới nước dư thừa đối với cây cà phê trong mùa khô đã gây ra tình trạng khô cạn nguồn nước tưới ở nhiều địa điểm ở khu vực 5 tỉnh khu vực Tây Nguyên, bao gồm Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đăk Nông, Lâm Đồng. Lượng nước tưới dư thừa đối với cà phê Robusta bị giữ lại tạm thời trong đất và không thể sử dụng trong mùa khô được nữa. Tập quán sử dụng nhiều nước trong canh tác cà phê khiến nguồn nước ngày càng cạn kiệt và là nguyên nhân chính của sự phát triển không bền vững của ngành này tại Tây Nguyên. Ước tính trung bình nông dân Tây Nguyên sử dụng nhiều hơn 60% lượng nước cần để tưới cây trong mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 hàng năm. Theo ông Phạm Phú Ngọc, chuyên gia cà phê của Công ty Nestlé Việt Nam, nông dân trồng cà phê tại các tỉnh Tây Nguyên dùng trung bình 700 đến 1.000 lít nước để bơm tưới cho cây, trong khi lượng nước cần để cho ra sản lượng cà phê tương đương chỉ là một nửa con số trên, tương đương 300 đến 400 lít.

Giải pháp 4C

Một số công ty và tổ chức quốc tế đã vào cuộc nhằm hỗ trợ ngành sản xuất cà phê tại Tây Nguyên đối phó với tình trạng hạn hán. Điển hình là Dự án nghiên cứu về tưới nước tiết kiệm, do Công ty Nestlé Việt Nam và Cơ quan Hợp tác Phát triển Thụy Sĩ (SDC) phối hợp với Viện Khoa học kỹ thuật Nông – Lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI), Công ty Embden, Drishaus & Epping Consulting (EDE Consulting) tiến hành nghiên cứu và chuyển giao các giải pháp canh tác theo hướng thích ứng và giảm thiểu tác hại của hạn hán trong sản xuất cà phê, hồ tiêu. Theo các khuyến nghị của các đơn vị này, có thể giảm tới ít nhất 30% lượng nước tưới và vẫn đảm bảo năng suất trồng cà phê, nhằm giảm thiểu tác động xấu tới lĩnh vực này. Theo đó, Nestlé Việt Nam và SDC đồng tài trợ trong khuôn khổ dự án Hợp tác công tư (PPP) mang tên “Sử dụng nước tưới hợp lý để nâng cao hiệu quả kinh tế của ngành sản xuất cà phê tại Việt Nam” vào tháng 3 vừa qua, trong đó xác định nước tưới là điều kiện tiên quyết trong hoạt động sản xuất cà phê. Theo kết quả nghiên cứu, có thể giảm đến 30% lượng nước tưới mà vẫn đảm bảo năng suất cà phê, tác động tích cực đến thu nhập của người nông dân.

Bên cạnh dự án nước, công ty Nestlé tiếp tục triển khai dự án Nescafé Plan tại các tỉnh Tây Nguyên, góp phần thúc đẩy việc tái canh cà phê thông qua việc hỗ trợ cây giống cà phê sạch bệnh và tập huấn khoa học kỹ thuật cho nông dân trồng cà phê. Sau 5 năm triển khai dự án Nescafé Plan, tính đến nay Nestlé đã hỗ trợ nông dân trồng cà phê hơn 11 triệu cây giống, giúp tăng sản lượng cà phê lên 14% /hecta và qua đó, thu nhập của người nông dân cũng tăng lên 14% /hecta, tương đương 16 triệu đồng/hecta/năm. Đây là kết quả của một chuỗi các nỗ lực nhằm đưa Việt Nam trở thành tham chiếu cho cà phê Robusta thế giới.

Áp dụng những kỹ thuật canh tác của chương trình này, người nông dân không chỉ đạt được hiệu quả kinh tế cao từ cây cà phê mà còn góp phần bảo vệ môi trường, tiết kiệm nguồn nước. Tiêu biểu như việc giới thiệu phương pháp tưới tiết kiệm nước, giúp nông dân tiết kiệm nước tưới từ 700 lít/cây xuống còn 400 lít/cây.

Ông Phạm Phú Ngọc, Nestlé Việt Nam, cho biết trên 632.000 ha cà phê tạo việc làm cho hơn 1 triệu lao động cho nông dân và 300.000 lao động liên quan đến chế biến, kinh doanh, buôn bán cà phê. Cà phê Việt Nam hiện đang xuất khẩu sang 75 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong niên vụ 2014-2015, Việt Nam xuất khẩu 1.662.000 tấn, đạt giá trị 3,4 tỷ USD, tính trung bình ngành cà phê xuất khẩu 90% tổng sản lượng và chỉ tiêu thụ 8-10% tổng sản lượng cho thị trường nội địa.

Ông Đỗ Mạnh Chung, chuyên gia tư vấn của Công ty EDE Consulting, chỉ ra những thách thức chủ yếu đối với ngành trồng và chế biến cà phê tại Tây Nguyên bao gồm: diện tích cà phê già cỗi không ngừng gia tăng hàng năm; thực trạng khô hạn và thiếu nước tưới trầm trọng đang gia tăng; các thực hành sản xuất còn hạn chế: sử dụng quá mức phân bón và nước tưới, hái quả xanh, thiếu cây che bóng chắn gió và thiếu các mô hình trồng xen canh… và thiết các mối liên kết trong chuỗi giá trị cà phê (chuỗi cung ứng). Theo ông Chung, sáng kiến 4C (Common Code for the Coffee Community), tức là Bộ nguyên tắc chung cho cộng đồng cà phê là một giải pháp khả thi để giải quyết tình hình thiếu nước tưới cà phê tại Tây Nguyên. Hiệp hội 4C là diễn đàn cà phê bền vững đa thành phần hàng đầu hoạt động nhằm mục đích cải thiện điều kiện kinh tế, xã hội và môi trường trong hoạt động sản xuất, chế biến cà phê để xây dựng một ngành cà phê bền vững cho các thế hệ tương lai.

Mục tiêu sau cùng của Hiệp hội 4C là tất cả các nông hộ trồng cà phê trên toàn thế giới (toàn bộ sản lượng cà phê) sẽ đạt được mức phát triển bền vững cơ bản về kinh tế, xã hội và môi trường. Để đạt được sự thay đổi cơ bản này, tất cả các bên liên quan trong ngành cà phê cần phải tham gia và hợp tác chặt chẽ cùng nhau. Hiệp hội 4C giúp họ chia sẻ nguồn lực và xây dựng mối quan hệ dài hạn bằng việc cung cấp công cụ và cơ chế như Bộ quy tắc và Quy tắc tham gia. Các nông hộ trồng cà phê sẽ có những giá trị gia tăng khi tham gia 4C như chi phí hợp lý, năng suất cao và ổn định, chất lượng tốt hơn, an toàn thực phẩm và môi trường sản xuất được cải thiện.

Hy vọng, sáng kiến 4C và những nỗ lực của các bên cũng như sự đồng thuận của người trồng cà phê sẽ góp phần giải hạn cho hàng chục nghìn héc ta cà phê Tây Nguyên – nguồn sống của nhiều hộ gia đình.

Thành Trung

Bài viết liên quan