Lương tối thiểu, bỏ hay không bỏ?

Lương tối thiểu, bỏ hay không bỏ?

Lương tối thiểu hầu như không có tác dụng như một công cụ bảo trợ xã hội, trong khi lại làm giảm khả năng cạnh tranh - một nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) nhìn nhận. 

Kinh doanh Tác giả

Theo tính toán từ bộ số liệu Điều tra doanh nghiệp, giai đoạn 2004-2015, năng suất lao động của Việt Nam đã tăng đáng kể với mức tăng trung bình đạt 4,4%. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng bình quân của lương (5,8%) vượt xa tốc độ tăng năng suất lao động. Phân tích cụ thể hơn, có thể thấy trong giai đoạn 2004-2009, lương trung bình tăng chậm hơn năng suất lao động, song từ năm 2009, tốc độ tăng lương trung bình đã vượt tốc độ tăng năng suất lao động. (Nghiên cứu này không bao gồm công nhân viên chức, người làm việc trong các tổ chức hành chính sự nghiệp hay nhận lương từ ngân sách nhà nước).

Lương tối thiểu có đảm bảo đời sống cho người lao động?

TS Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng VEPR chỉ rõ, trong hơn một thập kỷ gần đây, lương tối thiểu đã tăng liên tục, với tốc độ khá nhanh tại Việt Nam. Mặc dù năng suất lao động của Việt Nam vẫn còn thấp so với các nước láng giềng, mức tăng lương tối thiểu đã làm gia tăng mối lo ngại về khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế Việt Nam nói chung.

Cụ thể, lương tối thiểu ở Việt Nam đã tăng ở mức trung bình hàng năm đạt hai con số trong giai đoạn 2007-2015, vượt xa tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người và chỉ số giá tiêu dùng.

Tính ra, lương tối thiểu tăng 1% có thể khiến lương trung bình tăng 0,32%. Ngoài ra, khi lương tối thiểu tăng 100%, tỷ lệ lợi nhuận (đo bằng lợi nhuận trên doanh thu) sẽ giảm 2,3 điểm phần trăm.

Theo Trưởng Đại diện Văn phòng JICA Việt Nam Fujita Yasuo, tăng lương nhưng năng suất lao động không tăng tương ứng sẽ làm tăng chi phí của các DN, đồng thời giảm khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Mức chênh lệch giữa tăng trưởng năng suất lao động với lương tối thiểu và lương trung bình, nếu kéo dài, sẽ dần phá vỡ cân bằng trên nhiều khía cạnh của nền kinh tế, đặc biệt là cản trở tích lũy vốn con người, giảm động lực của nhà đầu tư, lợi nhuận của doanh nghiệp và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Thế nhưng nghịch lý là ở chỗ – theo nhóm nghiên cứu VEPR – quy định về lương tối thiểu chưa phải là “lưới đỡ” hữu hiệu giúp đảm bảo cho người lao động “đủ sống”.

Bởi lẽ, hiện có tới 50% lao động Việt Nam không được ký kết hợp đồng, số lao động này chủ yếu làm việc tại các hộ kinh doanh gia đình, lao động tự do, lao động làm việc tại các khu vực kinh tế nhỏ và vừa. Việc điều chỉnh tiền lương tối thiểu hiện nay không đảm bảo phân phối công bằng vì số lao động không có hợp đồng không được áp dụng mức lương tối thiểu.

TS Nguyễn Đức Thành thậm chí còn đề nghị mạnh dạn nghiên cứu bỏ hẳn lương tối thiểu để áp dụng cơ chế thoả thuận giữa chủ sử dụng với người lao động, tạo chuyển biến đột phá trên thị trường lao động, dù rằng Chính phủ sẽ phải áp dụng các chính sách khác để đạt được mục tiêu bảo trợ xã hội.

Vấn đề là cách làm

Đồng tình với một số luận điểm của nhóm nghiên cứu VEPR, các chuyên gia kinh tế đều có chung nhận định cho rằng nâng cao năng suất lao động mới chính là vấn đề căn cốt.

Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu và đặc biệt là đại diện Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam có góc nhìn hơi khác về sự cần thiết của quy định về mức lương tối thiểu. Ông Mai Đức Chính, Phó chủ tịch Tổng Liên đoàn Việt Nam, Phó chủ tịch Hội đồng Tiền lương quốc gia phản biện: nhóm nghiên cứu dùng khái niệm “năng suất lao động” 4,4% là năng suất lao động xã hội, trong khi lại chỉ đánh giá mức tăng lương tối thiểu ở khu vực chính thức là khập khiễng, lẽ ra cần đối sánh với năng suất lao động của khu vực chính thức (cao hơn). Bên cạnh đó, ông Chính cho rằng nhóm nghiên cứu cần tách bạch tác động của quy định về mức lương tối thiểu và cách thức tăng lương tối thiểu.

Khẳng định sự cần thiết của quy định về mức lương tối thiểu, vị Phó chủ tịch Tổng Liên đoàn Việt Nam nói: “Đúng là lương tối thiểu hiện nay chưa đủ sống. nhưng do doanh nghiệp gặp khó khăn nên cứ phải giãn mãi lộ trình tăng lương tối thiểu. Chứ đủ sống rồi thì chỉ cần điều chỉnh căn cứ vào tăng trưởng GDP và CPI thôi, không phải tăng thêm nhiều như bây giờ. Lương như hiện nay thì chỉ có 16% người lao động độc thân trong đa số các khu công nghiệp có tích luỹ thôi, chứ những người có con cái thì phải sống rất tằn tiện, cực khổ”.

TS, chuyên gia kinh tế Võ Trí Thành cũng lưu ý rằng, quy định lương tối thiểu tác động rất lớn đến khu vực hành chính sự nghiệp, nhưng lại không được bao gồm trong nghiên cứu. Ngoài ra, ông Thành đặt vấn đề: “Mức độ tác động của chính sách lương tối thiểu đối với nhóm lao động có kỹ năng nghề nghiệp và nhóm ít kỹ năng sẽ rất khác nhau. Ngoài ra, như đã nêu trong nghiên cứu, một số nước trong khu vực như Malaysia và Thái Lan cũng có mức lương trung bình tăng nhanh hơn năng suất lao động, thực tế này nói lên điều gì”? Vẫn TS Thành chỉ ra rằng, ngay trong nghiên cứu này, các tác giả dường như vẫn ghi nhận sự cần thiết của quy định về lương tối thiểu, thể hiện qua đề xuất chuyển dần sang hệ thống tính lương tối thiểu theo giờ (thay vì tính theo tháng như hiện nay). Điều này đảm bảo rằng những người làm việc theo giờ hoặc theo ngày công có thể được hưởng đầy đủ các quyền lợi của họ, đồng thời cho phép các nhà tuyển dụng linh hoạt hơn trong việc sử dụng lao động. Đây là kiến nghị mà ông Thành cho là hợp lý.

Đồng thời, cần xác định rõ các tiêu chí để thiết lập và điều chỉnh mức lương tối thiểu (bao gồm cả giỏ hàng hoá tính toán các nhu cầu cơ bản); và các điều chỉnh phải được lên kế hoạch phù hợp với mức tăng trưởng chung của nền kinh tế, lạm phát và bối cảnh kinh tế. Cách tiếp cận dựa trên các nguyên tắc rõ ràng như vậy sẽ làm tăng khả năng dự báo và minh bạch, giúp tránh được các quyết định điều chỉnh mức lương tối thiểu tùy ý, khiến nhà đầu tư và người sử dụng lo ngại.

PGS, TS Hồ Đình Bảo, Đại học Kinh tế quốc dân thì cho rằng việc thay đổi chính sách tiền lương tối thiểu ở khu vực chính thức sẽ làm ảnh hưởng đến lợi ích của khu vực phi chính thức, cần làm rõ mức độ ảnh hưởng này. Một câu hỏi đáng đặt ra, theo chuyên gia này, là liệu việc tăng lương tối thiểu có làm tăng tình trạng không tuân thủ quy định này hay không, tác động thế nào đến khả năng thay thế lao động thủ công bằng các loại máy móc, đặc biệt là trong một số ngành như ngành điện tử…

Cẩm Hà

Làm thế nào để đo nhu cầu sống tối thiểu của người lao động?

Theo Bộ luật Lao động 2012, mức lương tối thiểu được định nghĩa là mức thấp nhất trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất, trong điều kiện lao động bình thường và phải bảo đảm nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ.

Tuy nhiên, làm thế nào để đo lường nhu cầu sống tối thiểu của người lao động, cũng như việc xác định các tiêu chí quan trọng nhất vẫn còn nhiều tranh cãi. Với một người lao động làm công việc đơn giản nhất trong điều kiện bình thường, nhu cầu cơ bản bao gồm ba thành tố: nhu cầu lương thực thực phẩm, nhu cầu phi lương thực thực phẩm và hỗ trợ người phụ thuộc (con cái). Phương pháp tính toán các nhu cầu cơ bản hiện nay dựa trên giỏ 45 mặt hàng vẫn còn nhiều tranh cãi, vì trong đó có cả những sản phẩm như rượu, cà phê…

Bài viết liên quan

Ban biên tập lựa chọn

       

Video