..." /> Mùa Xuân, nhớ nghề buôn trà - Tạp chí Doanh nhân Online

Mùa Xuân, nhớ nghề buôn trà

Mùa Xuân, nhớ nghề  buôn trà

DoanhNhanOnline – Từ xa xưa, thương mại trà đã hình thành, gắn liền với đời sống Việt, tạo nên bức tranh đa sắc với bản sắc riêng. Trà (chè) từ một loại đồ uống bình thường, qua bao nhiêu thăng...

Chuyện kinh doanh Tác giả and
DoanhNhanOnline – Từ xa xưa, thương mại trà đã hình thành, gắn liền với đời sống Việt, tạo nên bức tranh đa sắc với bản sắc riêng.

Trà (chè) từ một loại đồ uống bình thường, qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử đã trở thành một tế bào của nền văn hóa Việt. Một trong các văn bản sớm nhất được tìm thấy đã cho hậu thế biết, trà được canh tác ở Đại Việt (tên cũ của Việt Nam) ngay từ thế kỷ thứ 7, qua một bài thơ tặng Thiền sư Nhật Nam:

“Xếp đá làm giếng mới
Rừng núi tự trồng Chè”

Nghề buôn thời cổ

Giai đoạn thế kỷ 16 – 18 thời Lê – Trịnh, nghề kinh doanh trà đã hết sức phát triển và những nhà buôn trà làm ăn rất phát đạt. Sách “Vân đài luận ngữ” cho biết, thu nhập từ cây trà của chủ vườn thời đó rất khấm khá: “Vườn trà 1.000 cây thu lợi 300 – 400 quan/năm”, một nguồn thu nhập không hề nhỏ so với mặt bằng kinh tế đương thời. Ở Đàng Trong, từ chỗ không có trà đã dần trở thành vùng canh tác và kinh doanh trà nhộn nhịp hơn bao giờ hết. Nhà du hành nổi tiếng người Anh, ông Chapman khi ghé thăm Đại Việt vào năm 1778 đã phải thốt lên rằng: “… đường bộ đi từ hải cảng Qui Nhơn đến hoàng thành của Nguyễn Nhạc đi qua làng nào cũng thấy hiệu bán trà”. Trà trở thành hàng hóa thông dụng khắp Đại Việt. Nghề canh tác và kinh doanh trà bắt đầu sa sút từ cuối thế kỷ 18, khi đất nước liên tục nổ ra những cuộc nội chiến khốc liệt. Chiến tranh liên miên khiến cho vùng trà Bắc Trung Bộ bị xóa sổ, hàng loạt danh trà Việt biến mất và là một mất mát lớn cho nghiệp trà Việt.

Đầu thế kỷ 19, nghề này dần phục hồi trở lại, bên cạnh nghề trà truyền thống đã manh nha hình thành một ngành công nghiệp trà Việt. Người Việt chỉ uống trà xanh còn trà đen theo chân người Pháp chỉ được sản xuất tại Việt Nam và xuất khẩu sang Phương Tây, Bắc Phi với khối lượng lớn. Thời kỳ này xuất hiện những đồn điền trà rộng mênh mông lên tới 500 ha của tư nhân ở đồng bằng sông Hồng. Cả nước có ba vùng trồng trà: Tonkin (Bắc kỳ), Annam (Trung kỳ), Cochinchine (Nam kỳ) theo cách gọi của người Pháp. Diện tích canh tác trà thời kỳ đó đạt tới 13.505 ha, sản lượng 6.100 tấn chè khô (1941).

Các hiệu trà xưa

Kinh đô Thăng Long văn vật vốn nổi tiếng với khu phố thương mại sầm uất từ thời Trung đại, khi được Bình An Vương Trịnh Tùng xây dựng như một đô thị mở, không tường cao hào sâu vào đầu thế kỷ 17. Đặc biệt, với sự góp mặt của thương điếm (trung tâm thương mại) của Hà Lan và Anh ở Bắc kỳ đã góp phần thúc đẩy ngành thương mại trà của Đại Việt. Tài liệu lưu trữ của các thương điếm nước ngoài cho biết, họ đã thu mua trà tại Thăng Long để xuất khẩu sang châu Âu ngay từ thế kỷ 17-18. Rất tiếc, đến nay chúng ta chưa thể tìm được những tư liệu chính xác về các hiệu trà xưa. Điều thú vị là các cửa hàng bán trà sầm uất nhất thời đó đều tập trung trên tuyến phố thương mại đông đúc nhất kinh thành, kéo dài từ phố Áo đen – Ô Y Hạng (nay là phố Hàng Bồ, Hà Nội), Yếm Thị, Hàng Lam, Cầu Đông (Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Đường), đến tận phố Hòe Nhai (Hàng Than).

Hãng danh trà Chính Thái mở cửa hàng kinh doanh ở phố Đường Nhân kinh thành (Hàng Đường). Hãng trà Mỹ Tín hàng ngày tấp nập kẻ mua người bán, bản hiệu còn ướp cả loại trà Thủy Tiên chỉ được bán vào mỗi dịp đón Tết Nguyên đán. Hiệu Chính Ký ở 23 Hàng Bồ là một trong những hãng trà danh tiếng khác của người Việt trong khu phố thương mại Bắc Thành xưa. Người Việt Nam không uống trà đen, chỉ quen uống trà xanh, chẳng hạn như trà xanh Chính Thái hoặc trộn thêm trà Đồng Lương sản xuất ở Phú Thọ.

Đến thời Pháp thuộc, ở khu vực Nam kỳ, vùng Sài Gòn – Chợ Lớn có thương hiệu trà “Nghi bồi nham” (trà Tổ kiến) khá quen thuộc với mọi nhà. Đó là một loại trà bánh được ép trông giống như cái tổ kiến, khi uống người ta bẻ ra cho vào ấm trà rồi châm nước sôi vào chờ cho ngấm thì rót ra uống. Tên gọi ngộ nghĩnh của loại trà này đã gây tò mò thú vị cho khách uống trà, dần dần trà Tổ kiến trở thành một thương hiệu nổi tiếng một thời. Tuy nhiên, từ lâu đã không còn thấy loại trà này nữa. Theo tổng kết của cụ Đỗ Trọng Huề, vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 có tới 33 hãng sản xuất, kinh doanh trà của người Việt. Bên cạnh họ còn 86 hãng trà của người Việt gốc Hoa hoặc người Hoa chen nhau hoạt động trên thị trường trà Việt vô cùng sôi động. Thế kỷ 20, rất nhiều hiệu trà Việt lên ngôi như: Tâm Trà Linh Dương, Suối Giàng, Tân Cương, Chính Thái, Thanh Hương, Thanh Tâm, Hồng Đào, Thanh Long, Tùng Hạc… Chúng từng là những biểu tượng trân quý cho nghề trà của người Việt.

Chợ trà

Từ thế kỷ 18, trà đã trở thành hàng hóa thông dụng khắp Đại Việt, kể cả ở vùng đất mới như miền Nam. Đặc biệt trong hai thế kỷ 18 – 19, ở kinh đô Kẻ Chợ chỉ hình thành duy nhất ba chợ chuyên doanh trà: chợ Tơ (Hàng Đào), chợ Cá (Hàng Cá) và chợ Chè. Chợ Chè chuyên kinh doanh trà họp cạnh ngôi đình thôn Hương Minh (ý nghĩa là Trà thơm), phía Nam hồ Lục Thủy (hồ Hoàn Kiếm), đủ thấy nghiệp trà phát đạt đến thế nào. Ngoài chợ chuyên doanh chính ở thôn Minh Hương, trà còn có mặt ở khắp các chợ của Kẻ Chợ (vùng đất có nhiều chợ). Nổi tiếng nhất kinh thành là chợ Cầu Đông nằm ngay giữa khu trung tâm thương mại của kinh thành. Vùng Kinh Bắc, đất trà xưa có chợ trà Lũng Nhai luôn sầm uất là nơi sinh ra bà Tuyên Phi Đặng Thị Huệ – Đệ nhất ái phi của Tĩnh vương Trịnh Sâm vang danh trong sử sách còn được biết đến với cái tên dân dã “bà chúa Chè”. Thời niên thiếu, bà từng mưu sinh bằng nghề hái trà thuê và bán trà tại chợ này trước khi bước vào Phủ Chúa. Kinh Bắc cũng là địa danh duy nhất có riêng bài ca “Mời trà” rất hay:

“Mấy khi khách đến chơi nhà
Đốt than quạt nước pha trà người xơi.
Trà này quý lắm người ơi
Mỗi người một chén cho tôi vừa lòng”
(Quan họ Bắc Ninh)

Đi sâu vào miền Trung, ở Huế hàng ngày vẫn có những chuyến xe chở trà Truồi rong ruổi các phiên chợ. Ngoài chợ thường có bán trà bó cột bằng lạt tre vừa đủ nấu một nồi. Trà Huế có vị chát, màu nước rất sẫm, có thể mua dễ dàng ở các góc vườn hoa, ngã tư đường phố với giá vài đồng chinh. Thời kỳ này, thương mại mậu dịch đang bùng phát mạnh mẽ ở Đại Việt và là sinh hoạt thương mại của nghiệp trà Việt xưa.

Xuất khẩu trà

Từ thời Lê – Trịnh khi nghiệp trà thịnh vượng, mặt hàng này lần đầu tiên được xuất khẩu sang phương Tây. Hai thương điếm Anh và Hà Lan ở Kẻ Chợ đã tranh nhau mua trà như một nguồn hàng xuất khẩu tiềm năng. Văn bản chính thức ghi nhận việc xuất khẩu trà Việt được ghi rõ trong bức thư gửi từ Batavia (Indonesia) đề ngày 23/2/1682: “… không có chè vì đắt quá, vả chăng người Hà Lan đã mua hết cả số chè hiện có”. Kế thừa nghề trà từ những triều đại trước, xuất khẩu trà được phục hồi, tiếp nối ở thế kỷ 19 sau khi vua Gia Long lên ngôi thống nhất Việt Nam. Trong khoảng hai năm 1817 – 1819, các tàu La Paix, Henri, Larose thường xuyên qua Việt Nam giao thương. Vua Gia Long cấp giấy phép thương mại với nhiều quyền ưu đãi cho thuyền trưởng ba con tàu trên và họ tận dụng để mua trà xuất về Pháp.

Trà nụ Việt lần đầu tiên “trình làng” ở triển lãm quốc tế Paris năm 1900 và được khách hàng chào đón nồng nhiệt. Trà An Nam còn vượt trùng dương sang tận Hoa Kỳ. “Sứ giả trà” mang hiệu “Trà dân tộc Cao nguyên” (Thé des Plateaux Mois) năm 1930 đã gióng hồi chuông mở màn cho ngành ngoại thương non trẻ Việt Nam, trên vùng đất châu Mỹ xa xôi đầu thế kỷ 20. Số liệu thống kê lưu trữ cho biết, vào thập niên 60 của thế kỷ trước, trà là mặt hàng xuất khẩu quan trọng thứ ba ở miền Nam Việt Nam. Ngày Xuân, xin cùng “cảo thơm lần giở” về một ngành nghề vang bóng trong lịch sử thương mại Việt Nam – kinh doanh trà. DN
TP.HCM, Xuân Giáp Ngọ

Trịnh Quang Dũng

Bài viết liên quan