Nghịch lý Dung Quất

Nghịch lý Dung Quất

DoanhNhanOnline – Chính mục tiêu sử dụng nguồn dầu thô đầu vào từ mỏ Bạch Hổ để không phải xuất khẩu khoáng sản thô đang làm khó nhà máy lọc dầu Dung Quất. Theo các chuyên gia, các nhà máy...

Câu chuyện quản lý Tác giả and
DoanhNhanOnline – Chính mục tiêu sử dụng nguồn dầu thô đầu vào từ mỏ Bạch Hổ để không phải xuất khẩu khoáng sản thô đang làm khó nhà máy lọc dầu Dung Quất. Theo các chuyên gia, các nhà máy lọc dầu thường có 2 loại cơ cấu sản phẩm chính là cơ cấu nhiên liệu và cơ cấu hóa dầu, trong mỗi loại lại có cơ cấu sản phẩm khác nhau tùy thuộc nhu cầu. Nhà máy lọc dầu Dung Quất chọn cơ cấu sản phẩm nhiên liệu để đảm bảo an ninh năng lượng, theo đó ưu tiên sản xuất nhiên liệu (xăng, dầu DO…), phần sản phẩm cho hóa dầu là thứ yếu. Vì đây là nhà máy lọc dầu đầu tiên của Việt Nam nên chọn cơ cấu sản phẩm nhiên liệu được xem là hợp lý. Tuy nhiên, chính bởi được thiết kế với nguyên liệu chính là dầu Bạch Hổ, một loại dầu ngọt có chất lượng cao nên mỗi khi giá dầu thế giới tăng cao, nhà máy lọc dầu Dung Quất lại gặp phải những khó khăn nhất định trong việc phát huy hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Giá xăng dầu của Dung Quất bị chi phối như thế nào?

Theo phân tích của Công ty TNHH Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR), năm 2011, giá dầu thô thế giới có những biến động đáng kể, từ mức trung bình 95 USD/thùng hồi tháng 1/2011 tiến tới mức gần 130 USD/thùng hồi tháng 4/2011 và rồi lại giảm xuống 120 USD/thùng vào tháng 11/2011. Tuy nhiên, đây chỉ là giá tham chiếu của dầu Brent và WTI cho thị trường quốc tế. Còn dầu Bạch Hổ với chất lượng tốt hơn nên có giá cao hơn mức bình quân từ 10 – 20% so với dầu Brent và WTI.
Hiện tại, giá sản phẩm xăng dầu của nhà máy lọc dầu Dung Quất được xác định trên cơ sở giá tham chiếu của thị trường quốc tế. Do chi phí dầu thô chiếm khoảng 90% nên mỗi khi giá dầu thô trên thị trường thế giới biến động thì giá thành sản xuất xăng dầu của Dung Quất cũng bị ảnh hưởng theo.

Lỗ do đâu?

Không chỉ chịu ảnh hưởng từ việc dùng dầu thô Bạch Hổ, việc bán gần như toàn bộ lượng xăng dầu sản xuất ra tại thị trường nội địa cũng khiến BSR gặp những khó khăn nhất định khác. Nếu như các doanh nghiệp nhập khẩu xăng dầu lớn đều gặp phải vấn đề rủi ro tỷ giá do phải mua xăng dầu từ nước ngoài bằng ngoại tệ rồi sau đó thu tiền bán xăng dầu bằng đồng nội tệ, thì kể từ khi nhà máy lọc dầu Dung Quất đi vào hoạt động, họ đã có BSR gánh hộ một phần khó khăn này.
Tuy nhiên, BSR lại không có nguồn thu ngoại tệ trong khi lại phải thanh toán tiền mua thêm dầu thô từ nước ngoài cho nhà máy lọc dầu Dung Quất, trả lương chuyên gia, trả nợ vốn vay xây dựng nhà máy bằng ngoại tệ nên đã phát sinh những khoản lỗ do chênh lệch tỷ giá. Vì vậy, năm 2011, khi tỷ giá liên ngân hàng từ 18.932 VND/USD lên 20.828 VND/USD đã khiến BSR phát sinh lỗ nặng. Thêm một điểm nữa, theo qui định hiện nay, giá bán xăng dầu của Dung Quất được cộng thêm 7% thuế suất thuế nhập khẩu, tỷ lệ này đối với khí hóa lỏng (LPG) là 5%. Nếu mức thuế suất thuế nhập khẩu thấp hơn mức trên thì BSR sẽ không được nhà nước cấp bù khoản chênh lệch. Trong năm 2011, do giá xăng dầu thế giới lên cao nên Nhà nước đã hạ mức thuế nhập khẩu xăng dầu xuống thấp hơn 7%, tổng cộng BSR đã không có được hơn 5.100 tỷ đồng từ cơ chế này. Kết quả là, cả năm 2011, BRS lỗ hơn 2.000 tỷ đồng.

“Việc bán gần như toàn bộ sản phẩm tại thị trường nội địa cũng khiến BSR gặp những khó khăn khác.”

Trong 6 tháng đầu năm 2012, các yếu tố như biến động giá dầu thô đầu vào, dừng hoạt động hơn 1 tháng để bảo dưỡng nhà máy, thuế nhập khẩu xăng dầu thấp… đã làm BSR lỗ tổng cộng trên 2.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, về lâu dài có thể BSR sẽ thoát khỏi những khó khăn này khi thuế suất thuế nhập khẩu xăng dầu được nâng lên cao hơn mức mà BSR được phép giữ lại và nhà máy có kế hoạch mở rộng, nâng cấp đầu tư để dùng được nguồn dầu thô đầu vào đa dạng hơn, giảm lệ thuộc vào dầu ngọt nhẹ có giá cao.

Yên Hưng

Bài viết liên quan

Ban biên tập lựa chọn

       

Video