..." /> Sóng ngầm chuyển nhượng cổ phần ngân hàng - Tạp chí Doanh nhân Online

Sóng ngầm chuyển nhượng cổ phần ngân hàng

Sóng ngầm chuyển nhượng cổ phần ngân hàng

Cùng với việc chấn chỉnh sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng, quy định mới của Ngân hàng Nhà nước sẽ mở cửa cho nhà đầu tư ngoại, nhưng, có giới hạn “mềm”. Thông tư 36/2014/TT-NHNN ban hành ngày...

Tiền tệ Tác giả

Cùng với việc chấn chỉnh sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng, quy định mới của Ngân hàng Nhà nước sẽ mở cửa cho nhà đầu tư ngoại, nhưng, có giới hạn “mềm”.

Thông tư 36/2014/TT-NHNN ban hành ngày 20/11 vừa qua quy định: ngân hàng thương mại có tỷ lệ nợ xấu dưới 3% được nắm giữ tối đa cổ phiếu của hai tổ chức tín dụng khác, nhưng không quá 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết của tổ chức tín dụng đó. Trong khi Vietcombank – đơn vị đang sở hữu nhiều cổ phần của ngân hàng khác, vẫn án binh bất động thì một số ngân hàng nhỏ khác đã bắt đầu dịch chuyển vốn cổ phần.

Thuyền nhỏ lo sóng lớn…

Thông tư 36 chưa kịp ráo mực thì thị trường đã chứng kiến việc quỹ đầu tư VOF Investment Limited – quỹ do VinaCapital quản lý – bán ra 60.000 cổ phiếu EIB của Eximbank. Sau giao dịch này, VOF đã giảm tỷ lệ sở hữu tại Eximbank từ 5,02% xuống còn 4,99%. VOF là một quỹ đầu tư, không phải là một ngân hàng thương mại nên không nằm trong đối tượng quy định về sở hữu cổ phần của Thông tư 36. Vậy tại sao họ phải vội vàng bán ra một lượng cổ phiếu nhỏ vừa đủ để không chạm trần sở hữu 5% của Thông tư 36? Địa chỉ đến tiếp theo của 4,99% cổ phần Eximbank này sẽ cho biết ông chủ thực của số vốn này. Còn theo báo cáo tài chính hợp nhất giữa niên độ 2014 của Eximbank thì nhà đầu tư chiến lược Sumitomo Mitsui Banking (Nhật Bản) – cổ đông lớn nhất, nắm giữ 15% cổ phần của ngân hàng này; Vietcombank đang nắm giữ 8,19% và VOF là những cổ đông lớn của Eximbank. Trong khi đó Eximbank lại nắm giữ 9,58% cổ phần của Sacombank… Vì vậy, đây chỉ là một trong những thương vụ khởi đầu cho làn sóng chuyển nhượng cổ phần ngân hàng trong thời gian tới, đặc biệt là từ thời điểm Thông tư 36 có hiệu lực là ngày 1/2/2015. Một minh chứng nữa, mới hơn là thương vụ chuyển nhượng cổ phiếu Maritimebank hôm 8/12 của Vinalines. Tổng công ty này bán ra trên 20 triệu cổ phần của Mairitimebank và chỉ có hai nhà đầu tư, một cá nhân và một tổ chức mua. Việc Vinalines bán cổ phần của ngân hàng nhằm thực hiện chủ trương thoái vốn đầu tư ngoài ngành theo yêu cầu của Chính phủ. Song, điều đáng nói là Vinalines hiện đang là con nợ lớn của Vietinbank (hiện tổng dư nợ gốc của Vinalines tại VietinBank khoảng 4.982 tỷ đồng, trong đó công ty mẹ là 2.051 tỷ đồng, các công ty con là 2.931 tỷ đồng). Ngân hàng Nhà nước lại vừa đồng ý về chủ trương để Vietinbank tham gia làm cổ đông chiến lược khi cổ phần hóa các cảng thành viên thuộc Vinalines. Trước hết, Vietinbank sẽ là cổ đông chiến lược của Cảng Hải Phòng và Đà Nẵng trong lần hai đơn vị này bán tiếp cổ phần vào đầu năm tới. Trước đây Ngân hàng Nhà nước khuyến khích các ngân hàng thương mại thoái vốn đầu tư ngoài “chuyên môn”, nhưng với động thái mới này, rõ ràng chủ ý của cơ quan quản lý đã thay đổi.

Cơ hội cho nhà đầu tư ngoại?

Có vẻ là thế, khi ngay sau Thông tư 36, Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành tiếp Thông tư số 38/2014/TT-NHNN quy định hồ sơ, trình tự, thủ tục nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của tổ chức tín dụng Việt Nam. Thông tư 38 cũng có hiệu lực kể từ ngày 1/2/2015. Sẽ có ba trường hợp nhà đầu tư nước ngoài sở hữu cổ phần: sở hữu 5% vốn của tổ chức tín dụng trở lên hoặc khi mua thêm cổ phần sau khi đã sở hữu 5% vốn; sở hữu 10% vốn trở lên của một tổ chức tín dụng Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần và trở thành nhà đầu tư chiến lược nước ngoài của tổ chức tín dụng.

Như vậy so với quy định hiện hành, quy định mới không có “trần” về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư ngoài. Hiện pháp luật Việt Nam quy định tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài và người có liên quan tối đa bằng 30% vốn điều lệ của một ngân hàng, trong đó có tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông chiến lược nước ngoài không vượt quá 15% vốn điều lệ, trừ trường hợp được Thủ tướng Chính phủ cho phép, nhưng không vượt quá 20% vốn điều lệ. Giới hạn này từng bị kêu ca rất nhiều, nhất là theo cam kết khi gia nhập WTO, theo lộ trình Việt Nam sẽ mở cửa toàn bộ thị trường tài chính, ngân hàng. Đặc biệt, thời kỳ hoàng kim (2007 – 2009) của những thương vụ bán cổ phần cho nhà đầu tư ngoại đã có rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài muốn được tăng tỷ lệ cổ phần nắm giữ tại ngân hàng Việt Nam. Thế nhưng, ngoại trừ trường hợp của HSBC tại Techcombak, cho đến giờ chưa có thêm trường hợp nhà đầu tư nước ngoài nào có tỷ lệ sở hữu cổ phần vượt quá con số 15% vốn điều lệ của một ngân hàng Việt Nam.

Quy định mới không đưa ra tỷ lệ trần như trên, vậy phải chăng Ngân hàng Nhà nước đã mở rộng cửa hơn cho nhà đầu tư nước ngoài? Không hẳn thế. Giới hạn 5%, 10% vẫn còn và rất cụ thể. Để trở thành “nhà đầu tư chiến lược“ thì không có quy định về tỷ lệ nào cả. Tuy nhiên, trong Thông tư 38, Ngân hàng Nhà nước lại có hàng loạt quy định về nguyên tắc, yêu cầu lập hồ sơ; rồi trình tự, thủ tục hành chính dành cho nhà đầu tư (!?). Đó chính là giới hạn “mềm” dành cho họ. Giới hạn mềm này sẽ cho phép cơ quan quản lý rất linh hoạt trong xử lý từng trường hợp. Ví dụ, GPbank, một trong 9 ngân hàng yếu kém buộc phải tái cơ cấu đã đề xuất được “bán đứt” cho nhà đầu tư nước ngoài, nhưng hiện vẫn chưa được chấp thuận. Liệu trường hợp này có trở thành ví dụ điển hình của Ngân hàng Nhà nước trong cách ứng xử với những ngân hàng yếu kém khi Thông tư 38 có hiệu lực? Thực ra, cũng không nên đặt nặng vấn đề “bán đứt” một ngân hàng nội khi nó quá yếu kém, không thể cứu vãn.

Vì thực tế, đã có trường hợp sau sáp nhập, hợp nhất những ngân hàng yếu kém chúng ta đã không có một ngân hàng khỏe mạnh như mong đợi. Hơn nữa, từ năm 2009 thị trường đã có một số ngân hàng 100% vốn nước ngoài hoạt động tại Việt Nam như HSBC hay Standard Chartered. Các ngân hàng trong nước từ lâu đã phải chấp nhận cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài ngay tại thị trường trong nước. Mặt khác, nếu mở hơn cho nhà đầu tư nước ngoài thì vấn đề xử lý nợ xấu của các ngân hàng sẽ nhanh hơn khi cứ chỉ trông chờ vào nhà đầu tư trong nước. Song vấn đề là, liệu thị trường tài chính – ngân hàng Việt Nam hiện có còn đủ sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư nước ngoài như trước không?

Thái Thanh

Bài viết liên quan