Tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016-2020: thách thức triệu tỷ đồng

Tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016-2020: thách thức triệu tỷ đồng

Hơn 10,5 triệu tỷ đồng là khoản tiền được Bộ Kế hoạch và Đầu tư định lượng để thực hiện kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016 – 2020. Khi Bộ Kế hoạch và Đầu tư...

Tin Nổi Bật Tác giả

Hơn 10,5 triệu tỷ đồng là khoản tiền được Bộ Kế hoạch và Đầu tư định lượng để thực hiện kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016 – 2020.

Khi Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố con số nói trên, không ít người đặt câu hỏi: số tiền ấy lấy từ đâu. Đồng thời, một nỗi lo vô cùng lớn cũng xuất hiện, đó là sử dụng nguồn lực khổng lồ ấy như thế nào cho hiệu quả? Làm sao để không để lại gánh nặng nợ cho đời sau?

Tiền ở đâu ra?

Có một câu hỏi từng nhiều lần được đặt ra khi Việt Nam thực hiện tái cơ cấu kinh tế giai đoạn 2011 – 2015, đó là cần bao nhiêu tiền để thực hiện kế hoạch này? Câu hỏi đã không được trả lời, mặc dù nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, muốn tái cơ cấu thì phải trả giá, không chỉ là trả giá bằng tiền bỏ ra để thực hiện kế hoạch đó, mà còn là phải chấp nhận tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại trong một giai đoạn nhất định

Lần này, khi Chính phủ đệ trình Quốc hội kế hoạch tái cơ cấu kinh tế giai đoạn 2016 – 2020, chi phí đã được định lượng rất rõ ràng. Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng công khai báo cáo con số trên 10,5 triệu tỷ đồng (theo giá thực tế, tương đương khoảng 480 tỷ USD).

Con số này ngay lập tức khiến dư luận hoang mang. Bởi nếu chia trung bình, để tiến hành tái cơ cấu kinh tế, mỗi năm cần tới trên 90 tỷ USD, trong khi GDP của Việt Nam năm 2015 chỉ là 199 tỷ USD và tổng tích lũy là 50 tỷ USD. Như thế, trung bình, chi phí tái cơ cấu kinh tế hàng năm vượt cả tổng tích lũy của nền kinh tế.

Thế thì lấy tiền ở đâu ra?

Các đại biểu Quốc hội khi thảo luận về Đề án Tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2026 – 2020 cũng đặt câu hỏi tương tự. Thậm chí, có đại biểu còn thẳng thắn đề cập tính khả thi của kế hoạch này, bởi số tiền 480 tỷ USD là quá lớn! “Nguồn vốn thực hiện tái cơ cấu sẽ huy động từ đâu khi ngân sách nhà nước ngày càng hạn hẹp?”, ông Bùi Sỹ Lợi, Phó chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội băn khoăn.

Thừa nhận điều này, chính Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng cũng đã khẳng định: “Nếu như chỉ đặt vấn đề ngân sách thì không có khả năng để làm. Do vậy, để thực hiện kế hoạch này, phải huy động nguồn lực từ xã hội, từ các thành phần kinh tế khác”.

Để tiến hành tái cơ cấu kinh tế, trong giai đoạn 2016-2020, mỗi năm Việt Nam cần tới trên 90 tỷ USD

Thêm nữa, theo lý giải của Bộ trưởng, hơn 10,5 triệu tỷ đồng ấy là tất cả nguồn lực được lồng ghép trong thực hiện kế hoạch từ nay tới năm 2020, không phải thuần túy là chi phí bỏ ra để thực hiện đề án tái cơ cấu kinh tế. Ví như, trong số này đã có khoảng 2 triệu tỷ đồng từ ngân sách nhà nước để thực hiện kế hoạch đầu tư công trung hạn 2016 – 2020.

Dẫu vậy, sẽ không hề là đơn giản để có thể huy động được nguồn lực 10,5 triệu tỷ đồng. Bởi ngay cả với khoản đầu tư trung hạn 2 triệu tỷ đồng thì đến cả Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng cũng không dám chắc là có huy động được hay không.

“GDP tuyệt đối năm nay ban đầu dự báo là 5,1 triệu tỷ đồng, giờ xuống khoảng 4,6 triệu tỷ đồng cũng chưa chắc, làm sao mà nói mọi thứ chắc chắn cho 5 năm được”, ông nói. Phó thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ cũng lo lắng “Khi thu không đạt như dự tính thì làm sao có đủ 2 triệu tỷ đồng để ít nhất là làm “vốn mồi” nhằm thu hút nguồn lực từ xã hội”

Đừng để con cháu mắc nợ!

Khi đề cập việc huy động nguồn lực cho thực hiện tái cơ cấu kinh tế, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng đã nhắc tới tỷ lệ 1/3 do ngân sách nhà nước, phần còn lại là huy động từ các nguồn lực xã hội khác. Nghĩa là con số còn lại sẽ vào khoảng 7 triệu tỷ đồng, bao gồm cả tiền đi vay.

Giả sử chuyện huy động nguồn lực là suôn sẻ, vấn đề đặt ra là sử dụng nguồn lực này thế nào cho hiệu quả. Chưa nói tới việc liệu 10,5 triệu tỷ đồng có thể thực sự giúp Việt Nam tái cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng hay không, chỉ riêng áp lực sử dụng khoản đầu tư công trung hạn 2 triệu tỷ đồng sao cho hợp lý và hiệu quả cũng đã vô cùng lớn.

2

Khi thảo luận về kế hoạch đầu tư công trung hạn 2016 – 2020, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng đã không khỏi lo lắng khi cho rằng, nếu không quản lý chặt chẽ thì sau 5 năm, tình trạng đầu tư dàn trải còn nghiêm trọng hơn hiện nay. Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng thậm chí còn khá căng thẳng khi phát biểu rằng, phải tính toán làm sao để 5 năm sau hiệu quả đầu tư công phải tốt hơn, chứ “be bét hơn thì chúng ta khó mà chịu được trách nhiệm”.

Lo lắng này là có cơ sở, khi mà lâu nay, do ngân sách hạn hẹp, lại chi thường xuyên quá lớn, nên để đầu tư Việt Nam phải đi vay. Đó là lý do vì sao nợ công có xu hướng tăng nhanh cả về quy mô và tốc độ; tốc độ tăng nợ công thậm chí còn nhanh hơn so với tốc độ tăng trưởng GDP.

Số liệu được Chính phủ báo cáo cho thấy, nợ công tuy vẫn trong giới hạn cho phép song tốc độ tăng bình quân cả giai đoạn (18,4%/năm) là khá cao, gấp hơn 3 lần tốc độ tăng trưởng GDP; tỷ lệ nợ chính phủ/GDP cũng đã tăng từ 39,3% năm 2011 lên 50,3% năm 2015. Đặc biệt, chỉ tiêu nợ chính phủ/GDP năm 2015 là 50,3%, vượt giới hạn cho phép (50%), khiến Chính phủ buộc phải đề xuất nâng chỉ tiêu giới hạn nợ chính phủ/GDP từ mức 50% hiện nay lên mức trần 55%.

Cần phân bổ lại nguồn lực và sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả để khơi thông các dòng chảy của nền kinh tế

Điều này cũng có nghĩa, nợ công được dự báo sẽ tiếp tục tăng nhanh trong thời gian tới. Nhưng vấn đề không phải nằm ở việc đi vay thế nào, vay bao nhiêu, mà là trả nợ ra sao. “Nhà đang nghèo, đất nước đang khó khăn chưa có của ăn của để nên phải đi vay để phát triển. Nhưng khả năng trả nợ thế nào mới là quan trọng. Theo thông lệ quốc tế, tỷ lệ nghĩa vụ trả nợ trên thu ngân sách là 25% có nghĩa là đang rất khó khăn”, Phó thủ tướng Vương Đình Huệ nói.

Trong khi đó, theo báo cáo của Chính phủ, nếu tính cả nghĩa vụ trả nợ phải đảo nợ thì tổng nghĩa vụ nợ đã ở mức 27,4% tổng thu ngân sách nhà nước vào năm 2015. Nếu cần huy động tới 10,5 triệu tỷ đồng để thực hiện tái cơ cấu kinh tế, gánh nặng trả nợ của ngân sách quốc gia còn lớn hơn nữa!

Và rõ ràng, con cháu chúng ta đã bắt đầu mắc nợ từ bây giờ!

Bay lên hay xuống hố?

Có một câu chuyện thời gian gần đây luôn được ông Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) nhắc tới, đó là khi nói đến tái cơ cấu kinh tế, nhiều người thường băn khoăn lấy nguồn lực ở đâu, và từ đó người ta bắt đầu hô hào “huy động, huy động và huy động”. Ông Cung bày tỏ quan điểm: “Tôi nghĩ cách đó không phải. Cùng với huy động, điều quan trọng hơn là phân bổ lại nguồn lực và sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả để khơi thông các dòng chảy của nền kinh tế. Còn nếu cứ đi huy động mãi thì chúng ta sẽ xuống hố chứ không phải là sẽ bay lên”.

Điều này là hoàn toàn đúng đắn, xét trong bối cảnh hiện nay. Quan trọng là sử dụng thế nào cho hiệu quả nguồn lực đó.

Trong một cuộc họp gần đây của Ban chỉ đạo Quốc gia về ODA, ông Rustam Ishenaliev, Trưởng phòng Quản lý dự án của ADB tại Việt Nam đã nhấn mạnh việc Việt Nam quá chậm trễ trong giải ngân vốn ODA và điều đó khiến Việt Nam bị thiệt hại. Không chỉ là nguồn lực không sớm được đưa vào thực tế để tạo động lực cho nền kinh tế, mà cái giá phải trả cho sự chậm trễ này còn là làm tăng thêm 17,6% chi phí mỗi năm. “Điều đó có nghĩa là, nếu chậm trễ 2-3 năm thì sẽ làm tăng chi phí lên đến 50%”, ông Rustam Ishenaliev nhấn mạnh.

3

Chưa kể, theo bà Lee Yoon Mee, Phó trưởng đại diện KEXIM Bank tại Việt Nam, dự án chậm trễ dẫn tới tăng tổng chi phí dự án, cũng như các chi phí về tư vấn, quản lý dự án, lãi suất phải trả trong thời gian thi công. “Điều quan trọng là trong trường hợp ấy, cơ quan chính phủ vi phạm hợp đồng và bị phạt, ảnh hưởng tiêu cực tới mức độ tín nhiệm của Việt Nam”, bà Lee Yoon Mee nói.

Những ví dụ để minh họa cho ý kiến nói trên của bà Lee Yoon Mee và ông Rustam Ishenaliev là không ít. Ví dụ, vì chậm trễ trong triển khai, Dự án Metro Hà Nội đã tăng tổng mức đầu tư từ 783 triệu EUR lên 1.176 triệu EUR; Dự án đường sắt đô thị Hà Nội tuyến Cát Linh – Hà Đông tăng tổng mức đầu tư từ 8.769 tỷ đồng lên 18.001 tỷ đồng; Dự án Cải thiện môi trường đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc từ 1.751 tỷ đồng tăng lên 4.024 tỷ đồng; Dự án Nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn 1 tăng từ mức 11.464 tỷ đồng lên 22.259 tỷ đồng và kiến nghị tăng thêm 26.051 tỷ đồng; Dự án Nhiệt điện Ô Môn 1 điều chỉnh tăng từ 8.267 tỷ đồng lên 11.538 tỷ đồng, tăng lần 3 lên 16.988 tỷ đồng…

Chừng nào mà nguồn lực còn bị sử dụng lãng phí như vậy, thì dù có huy động được nhiều hơn cả 10,5 triệu tỷ đồng, nền kinh tế cũng chưa thể thành công trong tái cơ cấu, sử dụng hiệu quả nguồn lực…

Hoàng Phương

Bài viết liên quan