..." /> Trông vào tăng thu từ dịch vụ - Tạp chí Doanh nhân Online

Trông vào tăng thu từ dịch vụ

Trông vào tăng thu từ dịch vụ

DoanhNhanOnline – Trong bối cảnh tín dụng khó ở đầu ra, tăng thu từ dịch vụ là điều đã được các ngân hàng xác định từ vài năm nay. Song cho đến giờ, họ vẫn quanh quẩn với bài toán...

Chuyện kinh doanh Tác giả and

DoanhNhanOnline – Trong bối cảnh tín dụng khó ở đầu ra, tăng thu từ dịch vụ là điều đã được các ngân hàng xác định từ vài năm nay. Song cho đến giờ, họ vẫn quanh quẩn với bài toán con gà hay quả trứng có trước.

Tín dụng mang lại khoảng 70% lợi nhuận cho các ngân hàng. Khoản lợi nhuận này được quyết định bởi hai yếu tố: chất và lượng. Xét về lượng thì hiện tăng trưởng tín dụng hết sức đì đẹt. Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, tính đến 22/4, tín dụng chỉ tăng 0,62% so với cuối năm 2013, bằng với mức tăng của cả năm 2013. Điều này cho thấy tình hình kinh doanh của các ngân hàng thương mại từ tháng 4 trở về trước vẫn không khả quan hơn so với 2013. Nhìn về phía trước, đến giờ vẫn chưa có dấu hiệu nào cho thấy tín dụng có cơ hội tăng trưởng vượt bậc trong những tháng tới để các ngân hàng có thể “lấy lại những gì đã mất”. Xét về chất, khoảng cách giữa lãi suất huy động và cho vay đang ngày càng thu hẹp. Lãi suất huy động tiền đồng kỳ hạn dưới 12 tháng phổ biến ở mức 5,5-6%/năm; trên 12 tháng 7,5- 8,3%/năm. Trong khi đó, ở chiều cho vay, lãi suất ngắn hạn đang dao động ở mức 9-10,5%/năm còn lãi suất trung và dài hạn nằm trong khoảng 11 – 12,5%/năm. Lãi suất cho vay trong các lĩnh vực ưu tiên chỉ còn 7%/năm, thậm chí nhiều ngân hàng chấp nhận mức 6%/năm. Đã vậy, trong phiên họp thường kỳ tháng 4, Chính phủ còn yêu cầu ngành ngân hàng tiếp tục giảm lãi suất cho vay, tích cực triển khai tín dụng cho các lĩnh vực ưu tiên.

Cũng có ý kiến cho rằng, tới đây khi tốc độ giải ngân các gói tín dụng cho bất động sản được đẩy lên, thị trường chứng khoán khởi sắc thì tín dụng sẽ tăng tốc… Song những gì diễn ra trên thị trường chứng khoán những ngày vừa qua cho thấy, tâm lý sợ rủi ro của các nhà đầu tư rất lớn, chưa thể kỳ vọng họ sẽ đầu tư một cách lâu dài, chuyên nghiệp. Còn bất động sản, cho dù có rất nhiều thông tin hỗ trợ thị trường từ Bộ Xây dựng và cả ngành ngân hàng, nhưng thị trường chưa có lực tăng mạnh. Vậy nên tín dụng của các ngân hàng thương mại đang khó cả về chất – chênh lệch lãi suất giữa đầu vào và ra thấp – và về lượng. Nguồn thu chính còn lại của các ngân hàng là từ dịch vụ.

Quý I năm nay, Techcombank đã thu về 673 tỷ đồng lợi nhuận, đạt 57% mục tiêu lợi nhuận cả năm 2014. Đây quả là một con số bất ngờ trong bối cảnh hiện nay. Đặc biệt, 65% của khoản lợi nhuận này lại đến từ mảng dịch vụ. Techcombank cho rằng, đây là kết quả của chiến lược đầu tư dài hạn và liên tục cho việc phát triển nền tảng công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực… Nếu cứ đầu tư mà thu được kết quả khả quan như vậy thì ngân hàng nào cũng sẵn sàng. Thế nhưng, thực tế không như vậy.

Thu trước để chi hay chi rồi để tăng thu?

Trước Techcombank nhiều ngân hàng lớn như Vietcombank, BIDV hay Vietinbank đã bỏ ra những khoản đầu tư không nhỏ để phát triển dịch vụ ngân hàng hiện đại. Nhưng cho đến giờ nhiều dịch vụ vẫn đang trong giai đoạn chi để chờ tăng thu hay nói cách khác, nếu chỉ xét nguồn thu các dịch vụ riêng lẻ thì nhiều khoản đầu tư cho dịch vụ đang lỗ. Để khắc phục điều này, các ngân hàng thường đưa ra gói sản phẩm dịch vụ, một mặt vừa tạo tiện ích cho khách hàng, mặt khác để ngân hàng khai thác hết “tiềm năng” của khách hàng.

Có thể điểm danh các dịch vụ mang lại nguồn thu lớn cho ngân hàng hiện nay là: dịch vụ thanh toán, dịch vụ kiều hối, thẻ, ngân quỹ… Nhiều ngân hàng đã tốn khá nhiều công sức và chi phí để đẩy mạnh mảng dịch vụ. Nhưng lợi nhuận mà họ thu về thì chưa mấy cải thiện trong khi liên tục bị khách hàng kêu ca về mức phí dịch vụ. Dễ thấy nhất hiện nay là dịch vụ thẻ. Hiện đã có trên 68 triệu thẻ ATM được phát hành. Với cả chục khoản phí liên quan tới chiếc thẻ như: rút tiền nội mạng, chuyển khoản, in sao kê, vấn tin, phí phát hành thẻ, phí thường niên, phí cấp lại mã PIN, phí cấp lại thẻ, phí xác nhận số dư tài khoản thẻ, dịch vụ SMS… thì số tiền ngân hàng thu được từ một chiếc thẻ không hề nhỏ. Đơn cử, chỉ với phí dịch vụ tin nhắn thay đổi trên tài khoản thẻ (dịch vụ SMS), mỗi tháng Vietcombank thu 8.800 đồng/tài khoản thẻ. Ngân hàng này đã phát hành hàng chục triệu thẻ. Nếu chỉ 50% người dùng thẻ có sử dụng dịch vụ này thì Vietcombank đã thu về tiền tỷ mỗi tháng. Nhưng dịch vụ thẻ của Vietcombank hay bất cứ ngân hàng nào cũng bị khách hàng phàn nàn: khó rút tiền, máy không nhả tiền hay có nhả nhưng thiếu… Mỗi lần xảy ra nhầm lẫn, sai sót, chưa biết lỗi về bên nào, nhưng chính khách hàng sẽ là người phải chạy đôn chạy đáo để “nhờ” giải quyết mà nhiều khi chi phí họ bỏ ra còn lớn hơn cả số tiền bị nhầm lẫn. Tất nhiên, với hàng triệu lượt giao dịch thì không thể tránh khỏi sai sót, nhưng phải chăng vì “nắm đằng chuôi” nên ngân hàng không vội giải quyết khiếu nại của khách hàng? Chưa kể, vì các ngân hàng liên kết mạng ATM nên nếu khách hàng giao dịch trên ATM không phải của ngân hàng phát hành thẻ thì có nguy cơ phải chạy theo “quả bóng trách nhiệm” mà các ngân hàng đá qua đá lại.

Hay động thái của Techcombank gần đây là điều chỉnh hàng loạt mức phí dịch vụ, nhất là tăng mức thu tối thiểu của dịch vụ chuyển tiền, khiến không ít khách hàng ngỡ ngàng. Nhưng nhiều người nghĩ mức thu từ vài ngàn đến vài chục ngàn, không lẽ vì thế mà thôi không sử dụng dịch vụ. Mà không chỉ Techcombank, ngân hàng nào cũng thu phí cả. Khách hàng không thể đủ kiên nhẫn để mang bảng thu phí của trên 50 đơn vị phát hành thẻ với hàng chục món phí ra so sánh xem ngân hàng nào thu cao, thu thấp thế nào. Như vậy, vấn đề đặt ra là chất lượng dịch vụ.

Đã sử dụng dịch vụ thì phải trả phí. Khách hàng đồng ý quan điểm này. Nhưng nếu ngân hàng cứ vin lý do thu không đủ bù chi để biện minh cho chất lượng dịch vụ kém thì sẽ không thoát khỏi vòng luẩn quẩn: đầu tư ít – chất lượng kém – nguồn thu thấp – không nhiều vốn để đầu tư tiếp, nâng cao chất lượng dịch vụ -chất lượng kém…

Nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng tiện ích chưa khi nào giảm. Có cầu nhưng rõ ràng cung chưa đáp ứng đủ, đáp ứng đúng. Vì vậy việc dịch vụ có trở thành con gà đẻ trứng vàng hay không phụ thuộc vào chính các ngân hàng. DN

Bài viết liên quan