Vốn đã quá rẻ!

Vốn đã quá rẻ!

Hàng loạt chính sách có hiệu lực sớm trước thềm tháng 12/2014 đang giúp các NH có điều kiện tốt hơn để tung vốn ra thị trường. Nhưng chỉ còn 1 tháng là đã kết năm, DN sẽ tận lực...

Tiền tệ Tác giả

Hàng loạt chính sách có hiệu lực sớm trước thềm tháng 12/2014 đang giúp các NH có điều kiện tốt hơn để tung vốn ra thị trường. Nhưng chỉ còn 1 tháng là đã kết năm, DN sẽ tận lực đón nguồn vốn này?

Trong tháng 11, nhiều NH TMCP đã “nương theo” lãi suất mới vừa được NHNN công bố, để triển khai các gói tín dụng lãi suất rẻ hơn.

Vốn “biếu không”…

Đáng kể có gói lãi suất thấp ưu đãi giảm tới 4%/ năm dành cho DNVVN của NH An Bình. Đây là gói tín dụng được hỗ trợ vốn nên thời hạn vay vốn được kéo dài tới 10 năm, ân hạn 2 năm cho DNVVN. Trên bề mặt, đây là gói cho vay DN trung và dài hạn có lãi suất thấp nhất hiện nay. Tuy nhiên, AnBinh Bank cũng chỉ tung gói tín dụng này mới đây và tiến độ giải ngân như thế nào, có chấp nhận cho vay tín chấp đối với DN hay không, chưa thấy đề cập tới. Cần lưu ý thêm AnBinh Bank là một trong số những NH có tăng trưởng tín dụng âm- tính đến hết tháng 9/2014 (với mức – 1,4%). Do đó không loại trừ việc tung gói tín dụng với lãi suất cho vay như “cho không” đối với DN, là một nỗ lực để An Bình cứu vãn tăng trưởng tín dụng lên dương vào thời gian ngắn ngủi còn lại của năm. Và như vậy, tung vốn là động lực “sống còn” của An Bình.

Cũng như nhiều NH khác, năm 2014, An Bình Bank không chú trọng chạy theo mục tiêu tăng trưởng tín dụng mà hướng đến cho vay khách hàng ít rủi ro hơn. Trên thực tế mặc dù tập trung công tác xử lí nợ, tính đến quý III/2014, NH An Bình cũng có tới 3.739 tỷ đồng nợ quá hạn, chiếm 16% tổng dư nợ. Chính điều này khiến chi phí dự phòng rủi ro tín dụng trong quý III tăng đột biến, gấp 18 lần cùng kỳ năm 2013 với 108 tỷ đồng. Khoản chi này đã kéo lãi ròng quý III/2014 của NH giảm xuống chỉ còn 43 tỷ đồng, giảm 16% so với quý III/2013. Lũy kế 9 tháng, chi phí dự phòng của An Bình là 216 tỷ đồng, gấp gần 13 lần cùng kỳ, lãi ròng đạt 165 tỷ đồng, bằng 2/3 cùng kỳ năm 2013. AnBinh Bank cũng còn cách mục tiêu lợi nhuận 400 tỷ đồng của cả năm rất xa. Và với gói tín dụng lãi suất mới khá thấp, kể cả khi NH giải ngân tốt, cũng khó có kì vọng đóng góp hay cải thiện lợi nhuận cho AnBinh. Nói cách khác kể cả khi tận lực tung vốn, NH cũng đã xác định không phải để nhằm cải thiện lợi nhuận. Và với vốn cho vay có mức lãi suất thậm chí thấp dưới trần lãi suất huy động, chênh lệch không đủ bù đắp chi phí và dự phòng rủi ro nhưng NH vẫn làm, tức là NH đã chấp nhận chia sẻ cùng DN – tìm kiếm những DN để gắn bó và quan hệ trung, dài hạn – cho kế hoạch phát triển ở những năm sau.

Tương tự như An Bình, một NH quy mô nhỏ khác là Phương Đông Bank – OCB, mới đây cũng có gói tín dụng cho vay trung và dài hạn lãi suất cố định kéo dài tới 3 năm dành cho khối DN. Theo đó, DN được tùy chọn gói vay, nếu vay từ 12 tháng trở xuống thì lãi vay là 10,5%/năm; Vay từ trên 12 tháng đến 24 tháng, cố định năm thứ nhất 9,5%/năm; Vay từ trên 24 tháng trở lên, cố định năm thứ nhất 9%/năm; Vay từ 48 tháng trở lên, lãi suất cố định sẽ là 9,99% trong suốt ba năm. So ra trên thị trường đây là một gói vay hấp dẫn. OCB cũng là NH có tăng trưởng tín dụng âm 9 tháng 2014 ở mức – 0,57%. So với mức tăng trưởng tín dụng đạt 18% của năm 2013 và cao hơn toàn hệ thống, rõ ràng những NH quy mô nhỏ như OCB sẽ càng phải tận lực tranh thủ cơ hội lãi suất xuống thấp, điều chỉnh vốn giá rẻ để khai thác, tiếp cận các khách hàng lớn, phát triển các khoản vay mới trong thời gian này, chứ cũng không hẳn tìm lại thời “hoàng kim một thuở”.

Trước đó, đón xu hướng hạ lãi suất của NHNN khi CPI xuống thấp, NH VIB cũng đã tung gói cho vay lãi suất cố định 30 tháng đầu của khoản vay với mức “rẻ” còn hơn cho, chỉ 0,68%/ năm. Tổng trị giá gói cho vay này lên tới 2.000 tỷ đồng và VIB “nói thật, làm thật”, chỉ trong một thời gian rất ngắn đã giải ngân được hơn 400 tỷ đồng. Nếu ví đây là một giải pháp tài chính cho DN, theo cách nói của ông Rahn Wood, Giám đốc Khối Bán lẻ NH VIB, thì nhìn ở góc độ hoạt động kinh doanh NH, đây cũng chính là một giải pháp để họ thoát “bẫy thanh khoản” – nắm tiền mà không thể cho vay ra.

Chấp nhận cuộc đua

Như vậy, các NH nói chung đã và đang phải chấp nhận một cuộc đua cho vay lãi suất thấp, dài hạn – trở về cốt lõi kinh doanh “ăn chắc mặc bền” mà bền vững trong dài hạn. Ông Trần Vinh Nhung, Phó Giám đốc Sở Công Thương TP HCM cho biết hiện nay, bên cạnh gói vốn giá rẻ mà các NH tung ra, cũng có chương trình cho DN vay kích cầu đầu tư được hỗ trợ lãi suất giảm 50 – 100% theo lãi suất thị trường do UBND TP HCM thực hiện từ những năm trước và tiếp tục tới năm nay. Mới đây chương trình này đã tăng tổng hạn mức lên 12.000 tỷ đồng, đồng thời bổ sung, mở rộng thêm một số ngành nghề. Các đối tượng của chương trình theo đó khá rộng, gồm các DN thuộc các lĩnh vực như: Sản xuất cơ khí, điện tử, công nghệ thông tin, hóa dược – cao su, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, dệt may, da giày, bất động sản, nông nghiệp, chế biến tinh lương thực phẩm, sản xuất bao bì vật liệu mới… Chương trình hỗ trợ này đã nhận được hàng trăm dự án đăng kí của DN và tổng hạn mức cho vay hỗ trợ lãi suất lên tới 100 tỷ đồng/ dự án. Ở một số lĩnh vực, thời gian được hưởng lãi suất hỗ trợ kéo dài tới 7 năm. “Đây là một gói kích cầu đầu tư có ý nghĩa dài hạn và đúng nhu cầu DN. Với lãi suất đang ở mức rất thấp như thế này, các NH hoàn toàn có thể triển khai kích cầu đầu tư cho nhiều lĩnh vực để bổ sung cùng nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước”, ông Nhung nói.

Lo ngại thiểu phát

Liên tiếp những chính sách tạo điều kiện cho các NH tung vốn giá rẻ ra nền kinh tế đã được NHNN ban hành trong thời gian qua. Trước khi bước vào tháng 11, ngày 29/10/2014, quyết định hạ lãi suất huy động và lãi suất cho vay đối với một số ngành nghề của NHNN đã tạo cú hích giảm lãi suất cho vay xuống mức thấp hơn nữa. Theo đó,  mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VNĐ đối với một số lĩnh vực ưu tiên chỉ còn 7-8%, lãi suất tối đa với tiền gửi VNĐ không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng là 1%/năm, tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng từ 6% xuống còn 5,5% -6%. Với tiền gửi bằng USD, lãi suất tối đa áp dụng với tiền gửi của tổ chức là 0,25%/năm và tiền gửi của cá nhân từ 1% xuống mức 0,75%/năm.

Trong khi đó, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của nền kinh tế tháng 11/2014, đã giảm 0,27%so với tháng trước, mức thấp nhất kể từ năm 2010 đến nay. Tính chung 11 tháng, CPI tăng 2,08% mức thấp nhất trong vòng 10 năm trở lại đây. Tình trạng này khiến người ta nhớ lại tình huống siết chặt tiền tệ sau lạm phát cao năm 2008, khiến CPI có tháng giảm 0,19% và làm dấy lên lo ngại về nguy cơ thiểu phát của nền kinh tế, cũng như, lo ngại thiểu phát đã từng xuất hiện vào tháng 3 năm nay khi CPI âm và tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống cũng không nhúc nhích.

Thực tế so với 2008 thì năm 2014, nền kinh tế VN có nhiều yếu tố ổn định hơn. Tăng trưởng GDP vẫn cao, cán cân thanh toán thương mại ổn, tỷ giá ổn định, hàng hóa không giảm trừ giá xăng dầu giảm do tác động giảm giá hàng hóa chung của thế giới. Dù vậy, những biểu hiện của một nền kinh tế có nguy cơ thiểu phát lại khá rõ ràng. Trong đó, biểu hiện lớn nhất là các NHTM gặp khó khăn khi cho vay, đồng thời chấp nhận lãi suất huy động tiết kiệm thấp. Tỷ lệ lạm phát thấp khiến lãi suất dù giảm vẫn cao và tiếp tục duy trì, dẫn đến nhà đầu tư vẫn dè dặt khi đi vay. Vòng luẩn quẩn NH ứ đọng tiền, nên giảm huy động tiết kiệm bằng cách hạ lãi suất huy động tiết kiệm cũng đã xuất hiện suốt cả năm qua. Song song đó, sản xuất cũng chưa hoàn toàn sôi động.

Nếu hết năm nay và tới đầu 2015 mà vẫn không khắc phục được tình trạng này, thiểu phát sẽ không còn chỉ là nguy cơ. Ở góc độ của DN, giá hàng hóa giảm, sức mua tụt dốc, DN sẽ không thể tiêu thụ được hàng hóa, dẫn đến đình trệ sản xuất kinh doanh, giảm lương, tăng thất nghiệp và tác động trở lại chính là thu nhập của người tiêu dùng.

Doanh nghiệp vay “ăn đong”

Một chuyên gia cho rằng nếu như năm 2013, DN vẫn còn “mỡ” để cầm cự thì năm 2014, là thời điểm khó khăn lộ hết ra ngoài vì DN đã… “hết mỡ lộ xương”.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong 11 tháng 2014, vẫn có tới 60.000 DN đã phá sản, đình trệ và đóng cửa hoạt động, tức mức DN gặp khó khăn vẫn chưa hề giảm mà ngược lại, tiếp tục tăng so với năm 2014. Và theo đó, việc tiếp cận vốn giá rẻ là một cách tăng thêm “mỡ” để DN có điều kiện tiếp tục cầm cự. Nhưng song song đó, nút thắt của DN không chỉ là tiếp cận vốn rẻ mà là họ có được vay vốn tín chấp hay không – khi tài sản thế chấp đã không còn “đảm bảo”, đồng thời dự tính nếu vay vốn, thì việc hấp thụ sẽ như thế nào, có bị kẹt trong sản xuất kinh doanh cuối năm  hay không…

Sức mua chưa có nhiều khởi sắc

Đáng tiếc là tại thời điểm hiện nay, sức mua vẫn chưa có nhiều khởi sắc. Báo cáo về tăng trưởng tín dụng và xử lí nợ xấu của Trung tâm Nghiên cứu BIDV cho biết tính đến hết quý III/2014, hàng tồn kho vẫn chưa giảm, DN vẫn gặp nhiều khó khăn cho sản phẩm đầu ra; tiêu dùng và sản xuất phục hồi chậm. Báo cáo này cũng dẫn một khảo sát của Tổng cục Thống kê năm 2014 cho biết có tới 50,5% DN không muốn vay vốn từ NH do không có nhu cầu, không đủ tài sản thế chấp hoặc DN có thể vay từ nguồn vốn khác…

Rõ ràng là vốn đã quá rẻ nhưng cũng mới chỉ là một trong những điều kiện cần nhưng chưa đủ. Điều kiện đủ là làm sao kích hoạt vốn này tới DN, chứ không chỉ rẻ ở chỗ niêm yết của NH. Chia sẻ với DĐDN, ông Nguyễn Chính Thắng – một DN gỗ tại TP HCM cho biết theo ông, điều các NH cần quan tâm hiện nay là xúc tiến giải pháp cho vay tín chấp DN. “NHNN đã mở cửa khuyến khích các NH cho vay tín chấp. Nhiều NH cũng đã gọi điện đến DN “mời chào” các chương trình cho vay như vậy, nhưng thực tế khi DN đến làm việc thì nếu không có tài sản thế chấp như bất động sản, nhà máy, với DN xuất nhập khẩu, họ cũng sẽ đòi hợp đồng xuất khẩu, đơn hàng… Chẳng hạn như DN của tôi muốn vay tín dụng trung hạn để mua máy móc, chuyển hướng đầu tư sản xuất sản phẩm trang trí nội thất cao cấp, thì lấy đâu ra ngay đơn hàng cho NH yên tâm… Cái gọi là xem xét kế hoạch sản xuất kinh doanh của DN để cho vay của NH vẫn còn rất “chặt”. Vẫn biết là NH sợ nợ mất vốn. Nhưng một khi đã chấp nhận “ngồi cùng thuyền” với DN, thì NH cũng vẫn nên… cởi mở và nhìn xa hơn”.

Đồng quan điểm, một DN sản xuất hàng tiêu dùng nội địa cho vay họ có thuận lợi khi vay khoản vốn nhỏ để sản xuất hàng hóa đón mùa Lễ Tết cuối năm, song việc tiếp cận vay vốn đầu tư cho dài hạn không theo mùa kinh doanh vẫn chưa được NH “rộng rãi”. “NH đã nỗ lực tính đến các gói vay trung và dài hạn, tức cũng biết DN lo ngại biến động lãi suất. Theo nguyên lí lò xo và cách kiểm soát của ta lúc bóp quá nghẹt, lúc bung quá mạnh, không phải DN và NH đều không lo lãi suất bất thần tăng trở lại nếu tiền ra quá nhanh, nhưng những gói vay trung và dài hạn của NH đã giải tỏa phần nào lo ngại này. Đã làm được như vậy, sao NH không… làm tới, cho vay trung và dài hạn tín chấp, để DN có kế hoạch làm ăn dài hạn?”, ông này nói.

Khó lập tức tăng nhanh tín dụng

Có thể nói là trước mắt, việc tiếp cận vốn giá rẻ của DN dù vốn rất rẻ và các quy định của cơ quan quản lí đã hết sức thông thoáng, vẫn chưa thể ngay lập tức tăng nhanh. Bản thân các NH cũng biết điều này và có phần hy vọng sẽ xuất hiện những dự án lớn (thường của đầu tư Nhà nước) sẽ có nhu cầu được giải ngân vốn cuối năm và đi vào triển khai ngay ở năm 2015, như “kịch bản” tăng tín dụng đột biến đã xảy ra vào cuối năm trước, hơn là trông đợi nhiều ở các khoản cho vay “lặt vặt”. Tâm lí đó của NH  khiến DNVVN – khối tư nhân thêm phần chần chừ chưa muốn tiếp cận các gói vay; khi điều kiện của họ còn có hạn so với mong đợi của NH. Phần giải ngân cho DN và người tiêu dùng theo đó, đa phần vẫn tính vay “ăn đong” theo chu kì Lễ Tết ngắn hạn, chưa có động lực cho DN đón vốn đầu tư cho dài hạn.

Trong suốt cả năm 2014, chỉ số sản xuất PMI của DN VN vẫn ở trên mức 50 điểm và hy vọng đây sẽ là chỉ số trung thực cho thấy dù khó khăn, DN vẫ nỗ lực cầm cự sản xuất chờ thời cơ mới. Vốn quá rẻ được duy trì dài hạn mới có ý nghĩa khi xuất hiện thời cơ này.

Lê Mỹ

Nguồn: DDDN

Bài viết liên quan